vanban.org

Bản án 279/2024/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 17/12/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N. Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền 30.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp tiền hụi giữa bà Nguyễn Thị N với bà Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N. Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền 30.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 279/2024/DS-ST
Ngày 17-12-2024
V/v tranh chấp tiền hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều. Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Giang.

Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 17 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 437/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp tiền hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 409/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965.

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Vủ T, sinh năm 1993, trú tại: Ấp H, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau là người đại diện theo uỷ quyền (hợp đồng uỷ quyền ngày 28 tháng 10 năm 2024) (có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 9 năm 2024 của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Trần Vủ T trình bày: Bà Nguyễn Thị H có tham hai dây hụi mỗi dây một chân hụi do bà Nguyễn Thị N làm chủ hụi, cụ thể như sau: Dây thứ nhất mở vào ngày 25 tháng 10 năm 2021 âm lịch, hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần bà H tham gia chơi một chân hụi đến kỳ thứ 5 bà H hốt hụi, bà N1 đã chung tiền hụi đầy đủ cho bà H, dây hụi này đến thời điểm hiện tại đã mãn hụi.

-1-Dây thứ hai mở vào ngày 10 tháng 11 năm 2022 âm lịch, hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần bà H tham gia chơi một chân hụi đến kỳ thứ 2 bà H hốt hụi, bà N1 đã chung tiền hụi đầy đủ cho bà H, dây hụi này đến thời điểm hiện tại còn 06 lần nữa mãn hụi. Sau khi hốt hụi bà H đóng hụi chết đến tháng 02 năm 2024 âm lịch bà H không đóng hụi cho bà N1. Đến ngày 15 tháng 4 năm 2024 âm lịch bà H và bà N1 có tính tiền hụi đến khi mãn hai chân hụi bà H còn nợ bà N1 số tiền 34.000.000 đồng, bà H có làm biên nhận nợ tiền hụi bà N1 34.000.000 đồng. Sau khi làm biên nhận bà H có trả cho bà N1 được 5 lần tổng số tiền 3.500.000 đồng, còn nợ lại 30.500.000 đồng. Ông đại diện cho bà N1 yêu cầu bà H trả cho bà N1 số tiền 30.500.000 đồng.

- Tại biên bản hoà giải ngày 12 tháng 11 năm 2024 bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà thừa nhận bà có tham gia chơi hai chân hụi do bà N1 làm chủ, bà đã hốt hết hai chân hụi, bà N1 đã chung tiền hụi cho bà đầy đủ. Sau khi hốt hụi bà có đóng hụi cho bà N1 đầy đủ đến tháng 02 năm 2024 âm lịch do hoàn cảnh khó khăn nên bà không có tiền đóng hụi cho bà N1. Bà thừa nhận bà có làm biên nhận nợ bà N1 số tiền 34.000.000 đồng, sau khi làm biên nhận bà có trả cho bà N1 được 3.500.000 đồng, bà thừa nhận còn nợ bà N1 số tiền 30.500.000 đồng. Hiện nay hoàn cảnh bà gặp nhiều khó khăn và còn một dây hụi chưa mãn còn khoản 10 lần nữa nên bà không đồng ý trả cho bà N1 một lần số tiền 30.500.000 đồng khi nào bà có tiền thì bà sẽ trả cho bà N1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả tiền hụi. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp tiền hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị H.

Tại phiên tòa ông Trần Vủ T đại diện cho bà Nguyễn Thị N cho rằng bà Nguyễn Thị H có tham gia hụi do bà Nguyễn Thị N làm chủ, bà H đã hốt hụi và đóng hụi chết được một thời gian thì không đóng hụi, bà H còn nợ bà N tổng số tiền 30.500.000 đồng, bà N yêu cầu bà H trả cho bà N số tiền 30.500.000 đồng. Tại biên bản hoà giải ngày 12 tháng 11 năm 2024 bà H thừa nhận bà H có tham gia chơi hụi và còn nợ bà N số tiền 30.500.000 đồng, vì hụi chưa mãn nên bà H không đồng ý trả cho bà N một lần số tiền 30.500.000 đồng, khi nào bà H có tiền thì bà sẽ trả cho bà N. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bà H có tham gia chơi hụi do bà N làm chủ và còn nợ số tiền đến khi mãn hụi 30.500.000 đồng. Mặc dù còn một dây hụi chưa mãn nhưng bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền hụi theo thoả thuận nên bà N yêu cầu bà H trả số tiền 30.500.000 đồng là có cơ sở

-2-nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của bà Nguyễn Thị N được chấp nhận nên bà N không phải chịu án phí, bà N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 763.000 đồng được nhận lại. Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 1.525.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 471 của Bộ luật dân sự và Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu phường; Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N. Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền 30.500.000 đồng (ba mươi triệu năm trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí, bà N đã nộp tiền tạm ứng án phí 763.000 đồng (bảy trăm sáu mươi ba ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003842 ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà N được nhận lại khi án có hiệu lực pháp luật.

Buộc bà Nguyễn Thị H phải nộp án phí dân sự có giá ngạch 1.525.000 đồng (một triệu năm trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

-3-

Cỡ chữ