vanban.org

Bản án 279/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 279/2022/HS-ST
Ngày 27 - 9 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu;

2. Bà Lê Yến Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành

phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An,

tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:

285/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét

xử số: 287/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Văn Khiếng M, sinh năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cƣ trú: Số

87/39 L, khu phố 3, phƣờng B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp:

Phụ hồ; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;

quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q, sinh năm 1956 (đã chết) và bà Lê Thị Đ,

sinh năm 1958; bị cáo có vợ bà Lê Thị Hồng T, sinh năm 1994 (đã ly hôn) và có 01

ngƣời con; nhân thân: Ngày 21/9/2020, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phƣờng Bình

Chiểu, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 750/QĐ-

UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng trong thời gian 03 tháng kể

từ ngày 21/9/2020 đến ngày 21/12/2020, đã chấp hành xong; Ngày 20/01/2022, bị

Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp

đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 33/2022/QĐ-TA ngày

20/01/2022, bị cáo chƣa chấp hành; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ,

tạm giam từ ngày 08/02/2022 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1990; trú tại: Số 7/131, khu phố 5,

phƣờng Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng

mặt.

Người làm chứng:

1. Ông Trịnh Phi B, sinh năm 1982; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Bị cáo Lê Văn Khiếng M; nơi cƣ trú: Số 87/39 đƣờng L, khu phố 3, phƣờng B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là đối tƣợng sử dụng trái phép chất ma túy, không có công việc làm ổn định, M nảy sinh ý định đi cƣớp giật tài sản của ngƣời khác để bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, khoảng 12 giờ 00 phút ngày 08/02/2022, M điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream màu nâu biển số 60Y2 – 4741 lƣu thông trên các tuyến đƣờng thuộc phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng tìm tài sản để chiếm đoạt. Khi đến khu dân cƣ T Lợi, thuộc khu phố Đồng An 2, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì nhìn thấy bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1990, nơi cƣ trú: 7/131, khu phố 5, phƣờng Quảng Hƣng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đang điều khiển xe đạp lƣu thông cùng chiều phía trƣớc, túi quần bên phải của bà T có một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53 màu đen, ốp lƣng màu đỏ. M liền điều khiển xe mô tô áp sát bên phải bà T đồng thời dùng tay trái giật lấy điện thoại di động OPPO A53 rồi tăng ga bỏ chạy. Bà T tri hô “cƣớp, cƣớp, ….” thì ông Trịnh Phi B, sinh năm 1982, nơi cƣ trú: Thôn Lâm Hạ, xã Đức Phong, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi liền đuổi theo bắt đƣợc M giao cho Công an phƣờng Bình Hòa để tiếp nhận và lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, sau đó bàn giao hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thuận An để xử lý.

Căn cứ biên bản định giá và kết luận định giá tài sản ngày 18/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An xác định: Điện thoại di động OPPO A53 trị giá là 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng).

Cáo trạng số 275/CT-VKSTA ngày 09/9/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Lê Văn Khiếng M về tội Cƣớp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên đề nghị áp dụng:

- Điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình

sự;

Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn Khiếng M mức án từ 04 (bốn) năm tù đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị T không có yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A53 là tài sản của bà Nguyễn Thị T. Ngày 15/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An ra Quyết định xử lý vật chứng số 28/QĐ-ĐTTH đã trả lại cho bà T nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Đối với xe mô tô kiểu dáng Dream biển số 60Y2-4741. Quá trình điều tra xác định là do Lê Văn Khiếng M mua của một ngƣời thanh niên chƣa rõ nhân thân, địa chỉ với giá 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng), việc mua bán không lập hợp đồng và không thực hiện sang tên theo quy định. Căn cứ Kết luận giám định số 378/KL-KTHS (SKSM) ngày 13/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng xác định xe có nhãn hiệu là GUIDA, số loại GD100, mang biển kiểm soát 60Y2 – 4741, có số khung, số máy không đổi, không phát hiện cắt hàn, đục sửa; Số khung: VTTDCG074TT*009595*; Số máy: VTTJL1P50FMG*009595*. Căn cứ Phiếu trả lời xác minh phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ ngày 10/5/2022 xác định do ông Vũ Trƣờng Giang, sinh năm 1974, HKTT: Tổ 10, khu 15, xã Long Đức, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu, ông Giang đã bán chiếc xe này cho một ngƣời không rõ nhân thân, địa chỉ, việc mua bán không lập hợp đồng và không thực hiện sang tên theo quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc.

Quá trình tố tụng bị hại bà Nguyễn Thị T thống nhất nội dung bản cáo trạng, đã nhận lại tài sản bị cáo chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng về trách nhiệm dân sự.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Lời nói sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình nên xin đƣợc hƣởng mức hình phạt thấp nhất để có điều kiện làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo, bị hại và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn Khiếng M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo thống nhất với nhau, phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và tài sản đã chiếm đoạt. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 08/02/2022, tại khu dân cƣ T Lợi, thuộc khu phố Đồng An 2, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Lê Văn Khiếng M thực hiện hành vi cƣớp giật tài sản là điện thoại di động hiệu OPPO A53 có giá trị là 2.800.000 đồng (hai triệu, tám trăm nghìn đồng) của bà Nguyễn Thị T. Trong vụ án này, bị cáo là ngƣời thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Cƣớp giật tài sản, bị cáo sử dụng xe môtô là nguồn nguy hiểm cao độ đang lƣu thông trên đƣờng cƣớp giật tài sản của bị hại có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của bị hại và những ngƣời khác đang tham gia lƣu thông trên đƣờng là phạm tội thuộc trƣờng hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm là tình tiết định khung theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Cƣớp giật tài sản, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do đó Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội Cƣớp giật tài sản là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Mức đề nghị hình phạt của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của ngƣời khác một cách trái pháp luật, là nguy cơ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của ngƣời khác, ảnh hƣởng an ninh xã hội tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi sử dụng xe mô tô đang lƣu thông để cƣớp giật tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi, nên bị cáo cố ý phạm tội nên cần áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A53 có giá trị là 2.800.000 đồng (hai triệu, tám trăm nghìn đồng) đã đƣợc thu hồi giao trả cho chủ sở hữu, bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu là GUIDA, số loại GD100, mang biển kiểm soát 60Y2 – 4741, có số khung, số máy không đổi, không phát hiện cắt hàn, đục sửa; Số khung: VTTDCG074TT*009595*; Số máy: VTTJL1P50FMG*009595*. Quá trình điều tra xác định là do Lê Văn Khiếng M mua của một ngƣời thanh niên chƣa rõ nhân thân, địa chỉ với giá 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng), việc mua bán không lập hợp đồng và không thực hiện sang tên theo quy định. Căn cứ Phiếu trả lời xác minh phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ ngày 10/5/2022 xác định do ông Vũ Trƣờng Giang, sinh năm 1974, HKTT: Tổ 10, khu 15, xã Long Đức, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu, ông Giang đã bán chiếc xe này cho một ngƣời không rõ nhân thân, địa chỉ, việc mua bán không lập hợp đồng và không thực hiện sang tên theo quy định. Bị cáo sử dụng xe làm công cụ, phƣơng tiện phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp

luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình

sự;

- Điều 106, Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí

Toà án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Khiếng M phạm tội Cƣớp giật tài sản.

Xử phạt bị cáo Lê Văn Khiếng M 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình

phạt tù tính từ ngày 08/02/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu là GUIDA, kiểu dáng Dream màu nâu; biển số

60Y2-4741;

số

khung:

VTTDCG074TT*009595*;

Số

máy:

VTTJL1P50FMG*009595* (không bửng, không gƣơng chiếu hậu, không có cụm

đèn sau (không kiểm tra tình trạng bên trong xe).

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 9 năm 2022)

3. Về án phí: Bị cáo Lê Văn Khiếng M phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn

đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên

án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày

bản án đƣợc giao hoặc niêm yết công khai./.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ