vanban.org

Bản án 279/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Bùi Vũ H;

Anh Bùi Vũ H được ly hôn với chị Trần Thị T. Về con chung: Giao con chung là cháu Bùi Thanh Bình, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2016 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm hoãn nghĩa vụ thực hiện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị T kể từ tháng 7 năm 2020 đến khi con chun…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "- Nguyên đơn: Anh Bùi Vũ H, sinh năm 1983; Đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú: Số 5 ngách 629/15 K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội; - Bị đơn:…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Bùi Vũ H;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 279/2020/HNGĐ-ST
Ngày 23 tháng 6 năm 2020
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Kim Dung

2. Bà Nguyễn Thị Lan Ka

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Mai Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 186/TLST – HN&GĐ ngày 28 tháng 4 năm 2020 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 139/2020/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2020/QĐST-HPT ngày 08 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Bùi Vũ H, sinh năm 1983; Đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú: Số 5 ngách 629/15 K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội;

- Bị đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1985; Đăng ký hộ khẩu: Số 5 ngách 629/15 K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội;

(Anh H có mặt, chị T vắng mặt lần thứ hai liên tiếp)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Bùi Vũ H trình bày như sau:

Anh Bùi Vũ H có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 01 năm 2016 tại UBND phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại số 5 ngách 629/15 K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Nay anh H xác định không còn tình cảm với chị T, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Thanh Bình, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2016. Khi ly hôn anh H có nguyện vọng nuôi cháu Bình và không yêu cầu chị T thực hiện nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nhà ở: Anh H xác nhận tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn hai bên tự lo về nhà ở.

- Về khoản nợ: Anh H xác nhận không vay nợ nhau, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ.

Tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt tại các buổi hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự được. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văng bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn tiếp tục vắng mặt lần thứ hai liên tiếp không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo luật định.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

+ Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 175; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định tại Điều 63; điểm b khoản 2 Điều 227 và chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 28; Điều 58; 63; 70 và Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn; về con chung căn cứ khả năng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, đảm bảo quyền lợi của đương sự cũng như quyền lợi của con chung thì giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, nguyên đơn không yêu cầu bị đơn đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn là phù hợp với quy định pháp luật. Về tài sản chung và nhà ở các khoản vay nợ nguyên đơn xác nhận tự thỏa thuận, nên không yêu cầu giải quyết. Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được cho đương sự, vì vậy Tòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Vũ H và chị Trần Thị T là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Nay anh H xác định không còn tình cảm với chị T, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên giải quyết cho anh H được ly hôn với chị T.

[3] Tòa án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn tại địa phương nơi vợ chồng chung sống. Ông Khương Kim Tạo – Tổ trưởng tổ dân phố số 4, phường N, cho biết: Anh Bùi Vũ H và chị Trần Thị T; Cùng địa chỉ số 5 ngách 629/15 K, phường N, anh chị có đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 01 năm 2016 tại UBND phường N, quận B. Sau khi cưới về chung sống tại số 5 ngách 629/15 K. Trong quá trình chung sống tại địa phương cũng có mâu thuẫn, nay anh H khởi kiện xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Thanh Bình, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2016. Hiện nay cháu đang ở với anh H, chị T thương xuyên vắng nhà, việc giao con cho ai nuôi để nghị tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về tài sản chung và nhà ở: Tổ dân phố không nắm rõ về vấn đề tài sản chung và nhà ở của anh chị. Về khoản nợ: Tổ dân phố không nắm rõ vấn đề vay nợ của anh chị.

[4] Tòa án cũng tiến hành ghi ý kiến gia đình của chị Bùi Thị Hoa, sinh năm 1964; địa chỉ: Số 5 ngách 629/15 K, phường N, là chị ruột của anh H. Qua trao đổi chị Hoa cho biết: Anh H và chị T đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 01 năm 2016 tại UBND phường N. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại số 5 ngách 629/15 K. Trong quá trình chung sống, tôi thấy vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, chị T thường xuyên đi vắng, bỏ bê không quan tâm đến gia đình. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Khi anh H làm đơn xin ly hôn chị T, chị T có về nhà, có biết việc này nhưng nói không quan tâm, đồng ý để Tòa giải quyết theo quy định pháp luật nhưng chị không nhận bất cứ văn bản gì của Tòa án. Nay anh H không còn tình cảm với chị T, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh H được ly hôn với chị T theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Thanh Bình, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2016. Hiện tại cháu đang ở với anh H cùng chúng tôi tại số 5 ngách 629/15 K. Do chị T không có công việc ổn định, thường xuyên vắng nhà không chăm lo cho gia đình nên đề nghị để anh H trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về tài sản chung và nhà ở: Quan điểm của gia đình để hai anh chị tự quyết định. Về khoản nợ: Gia đình chúng tôi xác nhận không vay nợ hai anh chị và hai anh chị cũng không vay nợ gì gia đình chúng tôi.

[5] Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị T kết hôn hợp pháp trên cơ sở tự nguyện, trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do, không đến làm việc tại Tòa án thể hiện từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình, thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho anh Bùi Vũ H được ly hôn chị Trần Thị T là phù hợp.

[6] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Thanh Bình, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2016. Khi ly hôn anh H có nguyện vọng nuôi cháu Bình và không yêu cầu chị T thực hiện nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T cũng không có ý kiến gì đối với con chung. Xét thấy việc giao con chung cho anh H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

[7] Về tài sản chung và nhà ở: Anh H xác nhận tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn anh tự lo về nhà ở. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ đối với bị đơn về yêu cầu xin ly hôn của anh H trong đó có yêu cầu về tài sản chung và nhà ở. Tuy nhiên bị đơn không có ý kiến cũng như không giao nộp tài liệu chứng cứ gì liên quan đến tài sản chung và nhà ở. Vì vậy, Tòa án không có căn cứ để xem xét giải quyết. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung và nhà ở bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về khoản nợ: Anh H xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ. Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn pH chịu án phí sơ thẩm;

[10] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ các căn cứ và nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39: Điều 70; khoản 4 Điều 147; các Điều 203; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Bùi Vũ H;

Anh Bùi Vũ H được ly hôn với chị Trần Thị T.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Bùi Thanh Bình, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2016 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm hoãn nghĩa vụ thực hiện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị T kể từ tháng 7 năm 2020 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Chị Trần Thị T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nhà ở: Anh Bùi Vũ H xin tự thỏa thuận về tài sản chung và nhà ở, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung và nhà ở bằng một vụ án khác khi anh H, chị T có yêu cầu.

Về khoản nợ: Anh Bùi Vũ H xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Anh Bùi Vũ H pH nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 24371 ngày 27 tháng 4 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày 23 tháng 6 năm 2020. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường nơi bị đơn cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ