vanban.org

Bản án 279/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sa Mi Lah.

Về hôn nhân: Bà Sa Mi Lah được ly hôn với ông Súc Ka Ri. Giấy chứng nhận kết hôn số 12, ngày 30/7/2012 của Ủy ban nhân dân xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sa Mi Lah.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 279/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 30/7/2020
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phong Phi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Hoàng Nghiệp

Bà Nguyễn Thị Tuyết Ái

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy- Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú. Tòa án nhân dân huyện An Phú mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 157/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 300/2020/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Sa Mi Lah, sinh năm: 1989.

- Bị đơn: Ông Súc Ka Ri, sinh năm: 1989.

Cùng cư trú: ấp Hà Bao 2, xã Đa Phước, huyện An Phú, An Giang.

(Bà Sa Mi Lah có mặt; ông Súc Ka Ri vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Sa Mi Lah nộp đơn xin ly hôn với ông súc Ka Ri với nội dung như sau:

Hôn nhân giữa ông, bà được hình thành là do thông qua mai mối rồi được cha mẹ hai bên định đứng ra tổ chức đám cưới vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đa Phước, huyện An Phú, An Giang. Cuộc sống chung thời gian đầu tương đối hạnh phúc và thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn đến nay. Nguyên nhân là do hai người bất đồng quan điểm, sống không hợp nhau, Ông Súc Ka Ri thường xuyên tụ tập ăn chơi trái pháp luật, bà có khuyên ngăn nhưng không được. Hai người ly thân nhau từ đó. Nay và xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông xin ly hôn với ông Súc Ka Ri.

Về con chung: Không có.

Về quan hệ tài sản chung; Nợ chung: Không có, cũng không ai nợ lại ông bà.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông Súc Ka Ri theo quy định nhưng ông vẫn không có mặt theo văn bản triệu tập của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của ông và Sa Mi Lah để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, bà Sa Mi Lah bảo lưu ý kiến của mình. Riêng ông Súc Ka Ri đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông theo thủ tục chung.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng…là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần HĐXX không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bà Sa Mi Lah và ông Súc Ka Ri có mâu thuẫn vơ chồng và không thể hàn gắn được do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[ 1] Về thủ tục tố tụng: Hôn nhân giữa bà Sa Mi Lah và ông Súc Ka Ri là do mai mối rồi cha mẹ đứng ra tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp; ông Súc Ka Ri là bi đơn cư trú trên địa bàn huyện An Phú, nên yêu cầu xin ly hôn của bà Sa Mi Lah được tòa án thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa hai người hình thành là do mai mối, được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân nhau. Nay bà Sa Mi Lah xin ly hôn do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Chứng cứ mà Tòa án thu thập được: Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân và nơi cư trú của ông Súc Ka Ri ngày 18/6/2020 được ông Nguyễn Hồng Sáng – Công an viên xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang cung cấp thông tin như sau: Hiện nay ông Súc Ka Ri vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại ấp Hà Bao 2, xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Về tình trạng hôn nhân thì ông không rõ nhưng theo thông tin nắm được thì hiện Súc Ka Ri bị nghiện ma túy và đã được Công an xã mời về xử lý và tiếp theo sẽ đưa đi cắt cơn theo quy định.

Xét nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn ngay từ ban đầu là bất đồng nhau trong cách sống, lẽ ra hai bên tự tìm cách hóa giải để tạo điều kiện cho cuộc sống hạnh phúc. Hiện tại bà Sa mi Lah xác định là không còn tình cảm với ông Súc Ka Ri nửa và mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng không có tiếng nói chung không thể tiếp tục chung sống.

Trong thời gian ly thân cả hai đều không quan tâm nhau để hàn gắn, căn cứ khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân gia đình, thì ông bà đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 luật hôn nhân và gia đình 2014 “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”, do đó Tòa án nhận thấy cả hai vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Tòa án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ.

Về quan hệ con chung: Không có.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có, không có nợ ai cũng không ai nợ lại ông bà.

Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay ông Súc Ka Ri vắng mặt, sau này ông có yêu cầu tranh chấp thì Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

Về án phí: Do yêu cầu của bà Sa Mi Lah được chấp nhận nên bàphải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông Súc Ka Ri không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sa Mi Lah.

Về hôn nhân: Bà Sa Mi Lah được ly hôn với ông Súc Ka Ri.

Giấy chứng nhận kết hôn số 12, ngày 30/7/2012 của Ủy ban nhân dân xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bà Sa Mi Lah phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001031 ngày 05/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (bà Sa Mi Lah đã nộp đủ).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/7/2020) Các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Súc Ka Ri được tính từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ