vanban.org

Bản án 278/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận ly hôn giữa anh Sơn Văn D và chị Danh Thị Út .

Về con chung: Giao con chung Sơn Gia P, sinh ngày 05/11/2011 cho chị Danh Thị Ú trực tiếp nuôi dưỡng; anh Sơn Văn D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở; anh Sơn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: Anh Sơn Văn D phải chịu 300.000 …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án giữa nguyên đơn Sơn Văn D và bị đơn Danh Thị U"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận ly hôn giữa anh Sơn Văn D và chị Danh Thị Út .
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 278/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28-6-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hợp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trường Hận;

Ông Nguyễn Vũ Bằng.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường – Thư ký tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 315/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024, về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Sơn Văn D, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Danh Thị Ú, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Sơn Văn D trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Ú sống chung năm năm 2013, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức hôn lễ, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã K theo quy định pháp luật, hiện vợ chồng đã ly thân nhau. Anh cho rằng cuộc sống chung không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra và không hàn gắn được nên anh yêu cầu ly hôn với chị Ú.

Về con chung: Có 01 người con chung Sơn Gia P, sinh ngày 05/11/2011 hiện đang sống cùng với chị Ú, yêu cầu giao cháu P cho chị Ú trực tiếp nuôi dưỡng, anh yêu cầu không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc riêng, anh yêu cầu tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Danh Thị Ú đúng theo quy định pháp luật nhưng chị Ú không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Ú có nơi cư trú tại xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, chị Ú đã được tòa án triệu tập xét xử hợp lệ những vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ theo Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh chị tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K vào năm 2013 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện anh chị đã ly thân nhau. Anh D xác định không còn tình cảm vợ chồng và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn, chị Ú không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh D nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của anh D được ly hôn với chị Ú.

[3] Về con chung: Anh chị có 01 người con chung Sơn Gia P, sinh ngày 05/11/2011 hiện đang sống cùng với chị Ú. Xét thấy, việc giao con chung cho người nào trực tiếp nuôi dưỡng cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của các bên và cần duy trì sự ổn định trong cuộc sống vốn có của cháu, hiện cháu P đang sống cùng với chị Ú nên cần duy trì sự ổn định cuộc sống vốn có đối với cháu là cần thiết; anh D thống nhất giao con chung cho chị Ú trực tiếp nuôi dưỡng. Đo đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu P cho chị Ú trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với kiện cụ thể các bên, đúng với quy định của pháp luật.

[4] Về cấp dưỡng: Anh D xác định yêu cầu không thực hiện việc cấp dưỡng đối với con chung; chị Ú vắng mặt và không có gửi ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con đối với cháu P. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét buộc nghĩa vụ cấp dưỡng trong vụ án này, trường hợp có phát sinh tranh chấp về cấp dưỡng chị Ú có quyền khởi kiện trong một vụ án khác.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Anh D xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có phát sinh về tài sản chung, nợ chung thì các bên có quyền khởi kiện thành một vụ án khác theo quy định pháp luật.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, chị Ú không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận ly hôn giữa anh Sơn Văn D và chị Danh Thị Út .

2. Về con chung: Giao con chung Sơn Gia P, sinh ngày 05/11/2011 cho chị Danh Thị Ú trực tiếp nuôi dưỡng; anh Sơn Văn D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở; anh Sơn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Anh Sơn Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, anh có nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005011 ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ