vanban.org

Bản án 278/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ngọc Q đối với ông Nguyễn Minh Q.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Ngọc Q và ông Nguyễn Minh Q chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 109, quyển số 1.2002 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/9/2002 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao 04 (bốn) con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ngọc Q đối với ông Nguyễn Minh Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 278/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13/4/2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nguyên.

2. Ông Lại Hữu Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Mỹ Dung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 4 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 462/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 62/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc Q, sinh năm 1982 – Có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1980 – Vắng mặt.

Địa chỉ: xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 13/4/2022, bản tự khai ngày 27/5/2022, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 04/11/2022 và biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 04/11/2022, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc Q trình bày:

Bà Trần Thị Ngọc Q và ông Nguyễn Minh Q chung sống với nhau từ năm 2002, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 27/9/2002 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 109, quyển số 1.2002. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra. Đến năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Q cờ bạc làm nợ nần, bà Q vừa lo cho con vừa phải trả nợ thay cho chồng. Hạnh phúc vợ chồng không còn dù bà Q đã cố gắng hàn gắn. Bà Q và ông Q tuy vẫn sống chung nhà nhưng đã ly thân từ vài năm nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nay bà Trần Thị Ngọc Q yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Minh Q.

Về con chung: Bà Q và ông Q chung sống có 04 con chung tên là Nguyễn Ngọc Diễm Q (nữ), sinh ngày 24/3/2006, Nguyễn Ngọc Quỳnh N (nữ), sinh ngày 26/6/2008, Nguyễn Ngọc Như Y (nữ), sinh ngày 28/02/2012 và Nguyễn Minh Q (nam), sinh ngày 21/5/2019. Sau khi ly hôn, bà Q yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 04 con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con do bà Q có khả năng. Hiện nay thu nhập hàng tháng của bà Q khoảng 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng, cả 04 con đang sống cùng vợ chồng bà.

Về tài sản chung: Bà Q yêu cầu tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Q xác nhận không nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Minh Q vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay mà không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến như sau: Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Thị Ngọc Q đối với ông Nguyễn Minh Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Trần Thị Ngọc Q khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Minh Q. Căn cứ vào Phiếu trả lời xác minh ngày 27/5/2022 do Công an xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thì ông Nguyễn Minh Q có thực tế cư trú tại địa chỉ: xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự:

+ Ông Nguyễn Minh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Minh Q.

+ Bà Trần Thị Ngọc Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị Ngọc Q.

[3] Về các yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 109, quyển số 1.2002 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/9/2002 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Ngọc Q và ông Nguyễn Minh Q là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị Ngọc Q trình bày: Bà Q và ông Nguyễn Minh Q chung sống với nhau từ năm 2002, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra. Đến năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Q cờ bạc làm nợ nần, bà Q vừa lo cho con vừa phải trả nợ thay cho chồng. Hạnh phúc vợ chồng không còn dù bà Q đã cố gắng hàn gắn. Bà Q và ông Q tuy vẫn sống chung nhà nhưng đã ly thân từ vài năm nay. Mục đích hôn nhân giữa bà Trần Thị Ngọc Q và ông Nguyễn Minh Q đã không còn, bà Q không muốn chung sống với ông Q nữa và yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Minh Q.

Căn cứ vào Phiếu trả lời xác minh ngày 08/02/2023 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh về việc trả lời xác minh tình trạng hôn nhân và gia đình của bà Trần Thị Ngọc Q và ông Nguyễn Minh Q được biết: “Ủy ban nhân dân xã V không có cơ sở để xác định những nội dung mà Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh yêu cầu. Qua rà soát, Ủy ban nhân dân xã V chưa giải quyết mâu thuẫn về hôn nhân giữa bà Trần Thị Ngọc Q và ông Nguyễn Minh Q. Do đó, Ủy ban nhân dân xã không nắm rõ được theo nội dung nêu trên”.

Ông Nguyễn Minh Q dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản thể hiện yêu cầu của nguyên đơn gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập đương sự nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết vụ án, cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Mặt khác, ông Nguyễn Minh Q cũng không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà Trần Thị Ngọc Q. Như vậy, ông Nguyễn Minh Q đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên ông Nguyễn Minh Q phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Do đó, Hội đồng xét xử xét nhận thấy việc bà Trần Thị Ngọc Q yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh Q là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Từ các nhận định trên và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ngọc Q đối với ông Nguyễn Minh Q.

Về con chung:

Căn cứ lời khai của bà Trần Thị Ngọc Q: Bà Q và ông Q chung sống có 04 con chung tên là Nguyễn Ngọc Diễm Q (nữ), sinh ngày 24/3/2006, Nguyễn Ngọc Quỳnh N (nữ), sinh ngày 26/6/2008, Nguyễn Ngọc Như Y (nữ), sinh ngày 28/02/2012 và Nguyễn Minh Q (nam), sinh ngày 21/5/2019. Sau khi ly hôn, bà Q yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 04 con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con do bà Q có khả năng. Hiện nay thu nhập hàng tháng của bà Q khoảng 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng, cả 04 con chung đang sống cùng vợ chồng bà.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Ngọc Q xác định bà Q và ông Nguyễn Minh Q chung sống không có tài sản chung, không nợ ai.

Ông Nguyễn Minh Q vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại Tòa hôm nay, không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa bà Trần Thị Ngọc Q và ông Nguyễn Minh Q. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa bà Trần Thị Ngọc Q và ông Nguyễn Minh Q. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[4] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án bà Trần Thị Ngọc Q phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ngọc Q đối với ông Nguyễn Minh Q.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Ngọc Q và ông Nguyễn Minh Q chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 109, quyển số 1.2002 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/9/2002 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao 04 (bốn) con chung tên là Nguyễn Ngọc Diễm Q (nữ), sinh ngày 24/3/2006, Nguyễn Ngọc Quỳnh N (nữ), sinh ngày 26/6/2008, Nguyễn Ngọc Như Y (nữ), sinh ngày 28/02/2012 và Nguyễn Minh Q (nam), sinh ngày 21/5/2019 cho bà Trần Thị Ngọc Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Nguyễn Minh Q do bà Trần Thị Ngọc Q có khả năng và không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Ngọc Q xác định bà Q và ông Nguyễn Minh Q chung sống không có tài sản chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung giữa bà Trần Thị Ngọc Q và ông Nguyễn Minh Q. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

4. Về nợ chung: Bà Trần Thị Ngọc Q xác định bà Q và ông Nguyễn Minh Q chung sống không nợ ai. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề nợ chung giữa bà Trần Thị Ngọc Q và ông Nguyễn Minh Q.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Ngọc Q phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0041024 ngày 25/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị Ngọc Q đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Ngọc Q và ông Nguyễn Minh Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ