vanban.org

Bản án 278/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang S và Nguyễn Văn Đ phạm tội Cố ý làm hƣ hỏng tài sản.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 04 (bốn) tháng 26 (hai mƣơi sáu) ngày tù, thời hạn tù bằng thời hạn tạm giữ, tạm giam. Bị cáo đã chấp hành xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Quang S bị truy tố về tội cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang S và Nguyễn Văn Đ phạm tội Cố ý làm hƣ hỏng tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 278/2021/HS-ST
Ngày 14-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Bà Phạm Tú Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 10 năm 2021 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 211/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 242/2021/QĐXXST-HS ngày 20/8/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 128/2021/HSST-QĐ ngày 06/9/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 174/2021/ HSST-QĐ ngày 24/9/2021 và Thông báo mở lại phiên tòa số 33/2021/TB-TA ngày 07/10/2021 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Quang S, sinh năm 1993; thƣờng trú: Tổ dân phố A, thị trấn Ph, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Khắc Kh, sinh năm 1965 và bà Trần Thị L, sinh năm 1972; bị cáo có 02 anh em ruột, lớn sinh năm 1992 nhỏ sinh năm 2001; tiền án; tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 27/3/2012, bị Tòa án Nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt 09 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 13/2012/HSST.

+ Ngày 31/7/2013, bị Tòa án Nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 31/2013/HSST.

+ Ngày 09/7/2015, bị Tòa án Nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 24/2015/HSST; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/4/2021; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1989 tại Thành phố Hải Phòng; thƣờng trú: Thôn A, xã V, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1963 và bà Trần Thị S, sinh năm 1965; bị cáo có 05 anh chị ruột, lớn sinh năm 1975 nhỏ sinh năm 1987; bị cáo có vợ tên Trịnh Thị Y, sinh năm 1992 và có 01 con sinh năm 2019; tiền án; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/4/2021, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng quyết định bảo lĩnh ngày 31/8/2021, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1967; địa chỉ: Số A, đƣờng V, khu phố Nh, phƣờng D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, ông Th có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Phạm Thị Bích Ph, sinh năm 1976; địa chỉ: Số A, đƣờng V, khu phố Nh, phƣờng D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn B, xã Ph, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Khắc C, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn Ph, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện Vĩ Bảo, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

5. Chị Trịnh Thị Y, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện Vĩ Bảo, thành phố Hải Phòng, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng cuối năm 2019, tên C (chƣa rõ nhân thân lai lịch) cùng với Nguyễn Văn Đ hùn tiền mỗi ngƣời 15.000.000đồng, tổng số tiền là 30.000.000 đồng cho bà Phạm Thị Bích Ph vay để lấy tiền lãi. Lãi suất do C thỏa thuận với bà Ph mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng, khi nào trả hết tiền lãi và tiền gốc thì hết nợ. Sau khi đƣa tiền cho bà Ph, C dặn bà Ph đƣa tiền lãi hàng ngày cho Đ. Quá trình vay bà Ph đã trả tiền lãi cho Đ đƣợc 02 lần với tổng số tiền là 3.200.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản. Do dịch bệnh, công việc khó khăn, bà Ph chƣa có khả năng trả tiếp nên vào ngày 26/3/2020, bà Ph tránh mặt xuống tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và nhắn gia đình đại diện thƣơng lƣợng giải quyết số tiền nợ cho Đ.

Tuy nhiên giữa gia đình bà Ph và Nguyễn Văn Đ không thƣơng lƣợng đƣợc giải quyết tiền nợ nên Đ rủ Nguyễn Quang S đến nhà bà Ph, tại địa chỉ: số 43 đƣờng V, TTHC Dĩ An, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng để đập phá, hủy hoại, làm hƣ hỏng tài sản nhằm mục đích đòi lại số tiền 30.000.000 đồng, cụ thể nhƣ sau:

- Lần 1: Khoảng 19 giờ 00 ngày 22/3/2021, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen vàng, biển số: 15K1 – 285.53, số khung: RLCUG0610GY208547, số máy: G3D4E221460 chở Sự đến nhà bà Ph để đòi tiền. Khi đến nhà bà Ph, Đ gặp con trai của bà Ph để hỏi thì đƣợc biết bà Ph đã bỏ đi đƣợc một năm không về nhà. Nghĩ rằng, gia đình bà Ph né tránh không muốn trả số tiền nợ nên Đ rủ S đi mua keo dán sắt đổ vào ổ khóa cửa nhà bà Ph, S đồng ý. Đến khoảng 22 giờ 00 cùng ngày Đ và S mua keo dán sắt rồi quay lại nhà bà Ph, tại đây Đ ở bên ngoài chờ và cảnh giới, S dùng keo dán sắt đổ vào ổ khóa, sau đó S leo lên tƣờng rào, dùng tay bẻ gãy camera nhãn hiệu Dahua gắn trƣớc nhà của bà Ph rồi cả hai cầm camera đi về phòng trọ tại số 161 đƣờng Tây Thạnh, phƣờng Tây Thạnh, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

- Lần 2: Khoảng 01 giờ 00 ngày 31/3/2021, Đ tiếp tục rủ S đến nhà bà Ph để đổ keo vào ổ khóa, khóa trái cửa, đập phá camera thì S đồng ý. Đ điều khiển xe mô tô Exciter, biển số: 15K1 – 285.53 chở S đến nhà bà Ph. Tại đây, Đ ở ngoài chờ và cảnh giới, còn S đi đến dùng keo đã mua trƣớc đó đổ vào ổ khóa, đồng thời dùng ổ khóa mới mua khóa bên ngoài cửa nhà. S nhặt một cây sắt dài khoảng 02 mét gần nhà bà Ph đập gãy camera nhãn hiệu KB Vision, khi camera đã hƣ thì S vứt cây sắt tại bãi đất trống cạnh nhà bà Ph. S và Đ còn dán lên cổng các tờ giấy ghi nội dung: “Chị Ph về trả tiền cho em đi LH: 0904.020.161” và cả hai đi về phòng trọ.

- Lần 3: Khoảng 04 giờ 00 ngày 04/4/2021, Đ tiếp tục rủ S đến nhà bà Ph để tạt sơn vào cửa nhà thì S đồng ý. Đ điều khiển xe mô tô Exciter, biển số: 15K1 – 285.53 chở S đến nhà bà Ph. Tại đây, Đ đứng ngoài cảnh giới, S đi đến dùng sơn pha với xăng đã mua trƣớc đó, tạt vào cửa nhà bà Ph, làm sơn dính lên cổng và dính vào phần đuôi xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, biển số: 61C – 438.53 của ông Nguyễn Ngọc Th (chồng bà Ph ). Sau đó S vứt thùng sơn qua bãi đất trống bên cạnh rồi cả hai đi về phòng trọ.

Đến ngày 05/4/2021, ông Nguyễn Ngọc Th liên hệ hẹn Đ đến nhà để trả nợ thì Đ đồng ý. Khoảng 12 giờ 00 cùng ngày, Đ rủ S, Nguyễn Khắc C (SN: 2001, HKTT: Tổ dân phố số A, thị trấn Ph, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai) và Nguyễn Thanh T (SN: 1995, HKTT: Thôn B, xã Ph, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai) đến nhà ông Th để lấy tiền nợ. Đ điều khiển xe mô tô Exciter, biển số: 15K1 – 285.53 chở S; T điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh bạc đen, biển số 35B2 – 329.73 chở C. Khi Đ, S, T và C đến nhà ông Th, bà Ph đƣợc khoảng 10 phút thì công an phƣờng Dĩ An mời về trụ sở làm việc. Tại cơ quan công an, Đ và S đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

- Kết luận định giá tài sản số 55/KLĐG-HĐĐGTS ngày 12/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự, UBND thành phố Dĩ An, kết luận:

+ Xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger, biển số: 61C – 438.53 bị thiệt hại do bị tạt sơn, chi phí sữa chữa kèm theo báo giá là 3.000.000 đồng.

+ 01 Mắt Camera nhãn hiệu KB Vision, màu trắng trị giá 1.300.000 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số 67/KLĐG-HĐĐGTS ngày 20/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự, UBND thành phố Dĩ An, kết luận:

+ 02 ổ khóa hiệu Việt Tiệp loại treo, màu vàng (đã qua sử dụng) trị giá 94.000 đồng.

+ 01 mắt camera nhãn hiệu Dahua, màu trắng (đã qua sử dụng) trị giá 720.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen vàng, biển số: 15K1 – 285.53

+ 01 thùng sơn nƣớc loại 18 lít màu nâu, 01 camera nhãn hiệu KB Vision – KX2003C4 màu trắng, 01 camera nhãn hiệu Dahua màu trắng, 01 ổ khóa Việt Tiệp loại treo màu vàng.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, biển số 35B2 – 329.73 của anh Nguyễn Thanh T .

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen, số IMEI: 354832099034488.

Tại cáo trạng số 231/CT-VKS ngày 05 tháng 7 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo Nguyễn Quang S, Nguyễn Văn Đ về tội Cố ý làm hƣ hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mƣời hai) tháng, bị cáo Nguyễn Quang S mức án từ mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mƣời hai) tháng tù.

Do các bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nên không tiến hành tranh luận.

Trong đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị hại Nguyễn Ngọc Th đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Trịnh Thị Y (vợ bị cáo Nguyễn Văn Đ) không có ý kiến gì đối với tài sản chung là mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen vàng, biển số: 15K1 – 285.53, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Quang S, bị hại ông Nguyễn Ngọc Th, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phạm Thị Bích Ph, anh Nguyễn Thanh T, anh Nguyễn Khắc C, anh Nguyễn Văn T và chị Trịnh Thị Y. Bị cáo Đ, bị cáo S, bị hại Th, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Y có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bà Phạm Thị Bích Ph, anh Nguyễn Thanh T, anh Nguyễn Khắc C, anh Nguyễn Văn T vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của bà Ph, anh T, anh C, anh T không ảnh hƣởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 290, 292 Bộ luật Hình sự, tòa án xét xử vắng mặt những ngƣời có tên trên.

Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại cơ quan Điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhƣ: Biên bản tiếp nhận ngƣời phạm tội ra đầu thú, Sơ đồ hiện trƣờng, Biên bản xác định địa điểm, Biên bản khám xét nơi ở, Biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, Bản ảnh khám nghiệm hiện trƣờng, Biên bản tạm giữ đồ vật, Biên bản trích xuất dữ liệu và Kết luận định giá tài sản số 55/KLĐG-HĐĐGTS ngày 12/4/2021, Kết luận định giá tài sản số 67/KLĐG-HĐĐGTS ngày 20/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Từ các tài liệu, chứng cứ trên có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Đ và bị cáo S đã có hành vi phá hƣ 01 camera nhãn hiệu KB Vision có giá 1.300.000đ, 01 camera nhãn hiệu Dahua trị giá 720.000đ, 02 ổ khóa Việt tiệp trị giá 94.000đ, tạt sơn vào đuôi xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger, biển số 61C-438.53 phải sửa chữa hết 3.000.000đ. Tổng cộng giá trị thiệt hại là 5.114.000 đồng. Nhƣ vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý làm hƣ hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 231/CT-VKS ngày 05 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

T chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa Ph. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tƣơng xứng với T chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.

Vụ án này có T chất đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò chặt chẽ nên không coi là phạm tội có tổ chức. Bị cáo Đ là ngƣời rủ bị cáo S đi đến nhà bị hại Th và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ph để đòi nợ, bị cáo Đ cũng là ngƣời đề xuất đi mua keo dán sắt đổ vào ổ khóa, tạt sơn vào nhà; bị cáo S là ngƣời thực hành tích cực trong việc đổ keo, phá camera và tạt sơn vào nhà bị hại.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thƣờng thiệt hại để khắc phục hậu quả cho bị hại, trong đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho các bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Đ còn có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 đó là phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng và việc phạm tội của bị cáo Đ cũng có một phần lỗi của bà Ph do bà Ph vay tiền của bị cáo nhƣng không thanh toán theo nhƣ thỏa thuận và cũng không có thiện chí thƣơng lƣợng trả nợ cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo Đ có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự. Bị cáo S đã từng bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản vào các năm 2012, 2013, 2015. Nên khi cá thể hóa hình phạt thì bị cáo S sẽ phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo Đ.

Xử lý vật chứng:

+ Đối với Ph tiện phạm tội xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen vàng, biển số: 15K1 – 285.53 của bị cáo Nguyễn Văn Đ là tài sản chung của vợ chồng nên tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc ½ trị giá tài sản, tƣơng đƣơng với số tiền là 9.000.000 đồng. Trả lại cho chị Trịnh Thị Y ½ giá trị xe nói trên.

+ Xét, 01 vỏ thùng sơn nƣớc loại 18 lít màu nâu, 01 camera nhãn hiệu KB Vision – KX2003C4 màu trắng, 01 camera nhãn hiệu Dahua màu trắng, 01 ổ khóa Việt Tiệp loại treo màu vàng là công cụ, Ph tiện phạm tội và vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, biển số 35B2 – 329.73 qua xác minh là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Thanh T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại cho anh T là đúng quy định pháp luật.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen, số IMEI: 354832099034488 là tài sản của bị cáo Nguyễn Văn Đ không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho bị cáo Đ là đúng quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 17/5/2021, Nguyễn Văn T là anh ruột của bị can Nguyễn Văn Đ và đồng thời là cậu ruột của bị can Nguyễn Quang S đã thỏa thuận bồi thƣờng cho bị hại Nguyễn Ngọc Th số tiền 10.000.000 đồng. Ông Th không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15/7/2021 (BL số 266) anh T không yêu cầu bị cáo Đ và bị cáo S trả lại số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Xét, bị cáo Đ phạm tội ít nghiêm trọng, có các tình tiết giảm nhẹ tại quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo đã bị tạm giam 04 (bốn) tháng 26 (hai mƣơi sáu) ngày, thời gian tạm giam này cũng đã đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Vì vậy, việc xử phạt bị cáo bằng thời gian đã tạm giam cũng không ảnh hƣởng đến tình hình phòng chống tội phạm tại địa Ph. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo dƣới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định. Vì xử phạt bị cáo hình phạt tù bằng thời hạn tạm giam nên cần tuyên hủy bỏ Quyết định bảo lãnh số 29/2021/HSST-QĐBL ngày 30/8/2021 của tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Xét, mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo S là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận; mức án Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Đ là nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử sẽ xử phạt bị cáo Đ thấp hơn mức hình phạt do Viện kiểm sát đề nghị.

Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang S và Nguyễn Văn Đ phạm tội Cố ý làm hƣ hỏng tài sản.

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 04 (bốn) tháng 26 (hai mƣơi sáu) ngày tù, thời hạn tù bằng thời hạn tạm giữ, tạm giam. Bị cáo đã chấp hành xong.

Hủy bỏ Quyết định về việc bảo lĩnh số 29/2021/HSST- QĐBL ngày 30/8/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang S 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù T từ ngày 05/4/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc ½ trị giá xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen vàng, biển số 15K1 – 285.53, số khung: 0610GY208547, số máy G3D4E221460, trả lại cho chị Trịnh Thị Y ½ giá trị xe mô tô nói trên;

- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ thùng sơn nƣớc loại 18 lít màu nâu; 01 camera nhãn hiệu KB Vision – KX2003C4 màu trắng; 01 camera nhãn hiệu Dahua màu trắng; 01 ổ khóa Việt Tiệp loại treo màu vàng.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/7/2021).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Quang S và Nguyễn Văn S, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ