- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Tiến V- Nguyễn Thị C"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của anh Hà Tiến V.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 144 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 277/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ - TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Bích Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Triệu Thị Yên.
2. Bà Tưởng Thị Thu.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thảo Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số: 165/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/9/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Hà Tiến V, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Hà Tiến V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Tiến V và chị Nguyễn Thị C tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn, anh V và chị C chung sống tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh V nghi ngờ chị C có quan hệ với người đàn ông khác. Hai bên gia đình đã khuyên bảo nhưng mâu thuẫn không thể khắc phục được. Anh V và chị C đã sống ly thân với nhau từ năm 2022 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh V được ly hôn với chị Nguyễn Thị C.
Về con chung: Anh Hà Tiến V và chị Nguyễn Thị C có 02 con chung là cháu Hà Nguyễn Hải L, sinh ngày 07/5/2011, và cháu Nguyễn Khánh T, sinh ngày 06/01/2016. Khi ly hôn anh V có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Không yêu cầu chị Nguyễn Thị C phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh V xác định không có tài sản chung, không có vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã Thông báo, triệu tập chị Nguyễn Thị C đến để giải quyết việc anh Hà Tiến V đề nghị ly hôn nhưng chị C đều không có mặt và không có ý kiến trình bày đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của anh Hà Tiến V. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay chị C vẫn đăng ký thường trú tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Theo lời khai của ông Nguyễn Văn N (bố đẻ của chị Nguyễn Thị C) cung cấp như sau: Chị C và anh V được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật năm 2009 tại UBND xã Y, huyện C và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn anh V và chị C chung sống cùng gia đình ông N tại thôn N, xã Y, huyện C. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2021-2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống và kinh tế. Anh V và chị C đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2022 đến nay. Chị C hiện nay đang đi làm ăn xa tại Hà Nội, không có mặt tại địa phương, gia đình chỉ liên lạc được với chị C qua điện thoại. Ông N xác định, việc anh V nộp đơn khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án chị C có được biết, tuy nhiên do chị đang đi làm ăn xa nên không thể về theo Giấy triệu tập của Tòa án. Địa chỉ cụ thể nơi làm việc của chị C ở đâu thì ông N cũng không được biết, nên ông N không cung cấp được địa chỉ nơi làm việc của chị C cho Tòa án, ông N xác định khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án ông N đã thông báo cho chị C biết việc anh V xin ly hôn nhưng chị C không về.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của anh Hà Tiến V; cho anh Hà Tiến V được ly hôn với chị Nguyễn Thị C.
- Về con chung: Giao cháu Hà Nguyễn Hải L, sinh ngày 07/5/2011 và cháu Nguyễn Khánh T, sinh ngày 06/01/2016 cho anh Hà Tiến V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản và nợ chung anh Hà Tiến V xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy không đề nghị xem xét.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Hà Tiến V phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định. Chị Nguyễn Thị C không phải chịu án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về pháp luật tố tụng.
Anh Hà Tiến V khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giải quyết cho anh ly hôn với chị Nguyễn Thị C; chị Nguyễn Thị C đăng ký thường trú tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Quá trình xác minh tại địa phương cho thấy, chị Nguyễn Thị C đăng ký thường trú tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Chị C đi làm ăn xa tại Hà Nội nhưng không thông báo địa chỉ nên không rõ địa chỉ cụ thể hiện nay của chị C. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập, gia đình chị C đã thông báo cho chị C nhưng chị C vẫn không về và cũng không thông báo địa chỉ nơi ở và nơi làm việc, đây được xem là trường hợp bị đơn cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; thực hiện các thủ tục niêm yết, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên bị đơn chị Nguyễn Thị C vẫn vắng mặt lần thứ hai, anh Hà Tiến V có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Văn, chị C có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình; có đăng ký kết hôn vào ngày 19/9/2009 tại UBND xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Qua lời khai của ông Nguyễn Văn N và kết quả xác minh tại thôn N, xã Y, huyện C cho thấy: Quá trình chung sống giữa Anh V1, chị C xảy ra mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau và bất đồng quan điểm sống, không có sự quan tâm, chia sẻ giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Anh V1 và chị C đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Hội đồng xét xử thấy rằng, cuộc sống chung của vợ chồng anh V1, chị C thực tế đã không tồn tại từ năm 2022 đến nay; cả hai đều đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nên không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được. Như vậy, căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình thì tình trạng hôn nhân của anh V1 và chị C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Tiến V, xử cho anh V được ly hôn với chị Nguyễn Thị C.
Về con chung: Anh V1 và chị C có 02 con chung là cháu Hà Nguyễn Hải L, sinh ngày 07/5/2011 và cháu Nguyễn Khánh T, sinh ngày 06/01/2016. Khi ly hôn anh V1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn. Tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu Nguyễn Khánh T và cháu H Nguyễn Hải L trình bày khi bố mẹ ly hôn hai cháu có nguyện vọng được ở với anh V1. Trong quá trình giải quyết vụ án chị C biết được Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án ly hôn giữa anh V1 và chị C, nhưng chị C không có văn bản trình bày ý kiến về nguyện vọng của mình về con chung khi ly hôn, hiện nay chị C đi làm ăn xa thường xuyên không có mặt tại địa phương. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu H Nguyễn Hải L, 07/5/2011 và cháu Nguyễn Khánh T, sinh ngày 06/01/2026 cho anh V1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Hà Tiến V xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ các Điều 143, 144, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Hà Tiến V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật, chị Nguyễn Thị C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của anh Hà Tiến V.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hà Tiến V được ly hôn với chị Nguyễn Thị C.
2. Về con chung: Giao cháu Hà Nguyễn Hải L, sinh ngày 07/5/2011 và cháu Nguyễn Khánh T, sinh ngày 06/01/2016 cho anh Hà Tiến V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Anh Hà Tiến V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Anh Hà Tiến V đã nộp số tiền 300.000đ tạm ứng án phí là theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0000541 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, nay được chuyển thành tiền án phí. Anh Hà Tiến V đã nộp đủ tiền án phí.
Chị Nguyễn Thị C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
4. Về quyền kháng cáo: Anh Hà Tiến V và chị Nguyễn Thị C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Chiêm Hóa; - UBND xã Yên Lập (nơi ĐKKH); - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - Lưu HS + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Bích Ngọc |