vanban.org

Bản án 277/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị B. 1/ Về hôn nhân: Cho chị Đoàn Thị B được ly hôn với anh Lê Hoàng T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 277/2023/HNGĐ-ST
Ngày 25-8-2023
V/v: “Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Quang Minh

2. Ông Nguyễn Việt Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội - Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 418/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 360/2023/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị B, sinh năm 1991.

2. Bị đơn: Anh Lê Hoàng T, sinh năm 1982.

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

(Nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Đoàn Thị B trình bày:

Về hôn nhân:

Chị và anh T chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau. Trong cuộc sống bất đồng ý kiến, dẫn đến vợ chồng cãi nhau, làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc.

Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Lê Thanh N, sinh ngày 25/8/2010 (giới tính: Nữ) và Lê Tường V, sinh ngày 22/7/2012 (giới tính: Nữ).

Khi ly hôn, nguyên đơn yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N, giao cháu V cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra việc cấp dưỡng.

Về tài sản, nợ: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay, nguyên đơn yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn.

Đối với bị đơn anh Lê Hoàng T:

Khi thụ lý, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

Vụ án, được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, do bị đơn vắng mặt.

Tại Văn bản ghi nhận ý kiến đối với cháu N ngày 07/7/2023, cháu có nguyện vọng được sống chung với chị B.

Còn, cháu V chưa ghi nhận được ý kiến, chị B xác định do anh T trực tiếp nuôi dưỡng, hiện không có mặt tại địa phương.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt, nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt và bảo lưu ý kiến như tại đơn khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về sự vắng mặt của đương sự: Do bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, còn nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Căn cứ các điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử cần xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp.

Về quan hệ pháp luật: Được xác định là “Tranh chấp về Ly hôn”, đồng thời bị đơn có nơi cư trú tại Huyện T.

Từ đó, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Chị B và anh T tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau, nên về mặt hôn nhân được xem là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Quá trình chung sống:

Chị B và anh T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không quan tâm chăm sóc đến nhau, nên chị B mới nộp đơn ly hôn với anh T.

Đối với anh Thanh vắng m, không tham gia tố tụng và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến gì trước yêu cầu ly hôn của chị B.

Cho thấy, bị đơn đã không quan tâm đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình với nguyên đơn.

Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 07/7/2023, chị B kiên quyết ly hôn với anh T.

Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và có nghĩa vụ chung sống với nhau.

Xét, mâu thuẫn giữa chị B và anh T đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ được chấp nhận.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn là phù hợp với Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung:

Chị B và anh T có 02 người con chung tên Lê Thanh N, sinh ngày 25/8/2010 (giới tính: Nữ) và Lê Tường V, sinh ngày 22/7/2012 (giới tính: Nữ).

Tính đến ngày xét xử sở thẩm ngày 25/8/2023, các cháu đã trên 07 tuổi và dưới 18 tuổi.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “...; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Tại Văn bản ghi nhận ý kiến đối với cháu N ngày 07/7/2023, cháu N có nguyện vọng được sống chung với chị B.

Còn, cháu V chưa ghi nhận được ý kiến, chị B xác định do anh T trực tiếp nuôi dưỡng, hiện không có mặt tại địa phương.

Quá trình tố tụng, chị B có yêu cầu xem xét nguyện vọng của cháu N, nay cháu N xác định có nguyện vọng được sống chung với chị B, đồng ý giao cháu V cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.

Từ đó, Hội đồng xét xử cần tôn trọng nguyện vọng của cháu N và vì lợi ích của con chung, đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống nên cần giao cháu N cho chị B và giao cháu V cho anh T được quyền nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng:

Theo quy định tại Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, ..., trong trường hợp không sống chung với con”.

Ở vụ án này, Hội đồng xét xử đã giao cháu N cho chị B và giao cháu V cho anh T được quyền nuôi dưỡng, thì chị B và anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các cháu. Nhưng ở vụ án này, chị B không có yêu cầu anh T phải cấp dưỡng, còn anh T thì vắng mặt.

Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, trường hợp có tranh chấp về cấp dưỡng sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

Về tài sản, nợ: Chị B không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

Về án phí: Buộc chị B phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng, đối trừ số tiền 300.000 đồng dự nộp tại biên lai 6908 ngày 19/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nguyên đơn nộp xong.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Các điều 147, 227, 228, 235, 238, 273, 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Các điều 19, 51, 56, 55, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị B.

1/ Về hôn nhân: Cho chị Đoàn Thị B được ly hôn với anh Lê Hoàng T.

2/ Về con chung: Giao cháu Lê Thanh N, sinh ngày 25/8/2010 (giới tính: Nữ) cho chị Đoàn Thị B và giao cháu Lê Tường V, sinh ngày 22/7/2012 (giới tính: Nữ) cho anh Lê Hoàng T được quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

“Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật”.

3/ Về tài sản, nợ: Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

4/ Về án phí: Buộc chị Đoàn Thị B phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), đối trừ số tiền 300.000 đồng dự nộp tại biên lai 6908 ngày 19/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nguyên đơn nộp xong.

5/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6/ Về nghĩa vụ thi hành án: “Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ