vanban.org

Bản án 277/2020/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 28/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của cáo Vũ Sỹ Đ; sửa Bản án hình sự s thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 06/3/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Áp dụng iểm a khoản 4 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999; các iểm b, s, v khoản 1 Điều 51; iểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: B cáo Vũ Sỹ Đ 07 ( ảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày cáo Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Sỹ Đ - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của cáo Vũ Sỹ Đ; sửa Bản án hình sự s thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 06/3/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 277/2020/HS - PT
Ngày: 28-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thông

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Tấn Trường

Ông Phạm Tồn

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Anh, Kiểm sát viên.

Vào ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 160/2019/TLPT-HS ngày 16 tháng 4 năm 2019 ối v i cáo Vũ Sỹ Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của cáo Vũ Sỹ Đ ối v i Bản án hình sự s thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 06/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Vũ Sỹ Đ. Sinh ngày 26/6/1974 tại; N i cư trú: thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp trư c khi phạm tội: cán ộ Công an thuộc Trung oàn CSCĐ T (Ẽ) Bộ Tư lệnh CSCĐ Bộ Công an óng tại thành phố P, tỉnh Gia Lai; Trình ộ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Gi i tính: nam; Quốc t ch: Việt Nam; con ông Vũ Sỹ Đ, sinh năm 1943 và à Hà Th N, sinh năm 1949; có vợ là Bùi Th Q và có 02 con, l n sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt.

Ngày 27/12/2017 cáo khởi tố và áp dụng iện pháp cấm i khỏi n i cư trú. Hiện cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa

Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Lê Đình Q, Luật sư Văn phòng Luật sư H, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai. Có Đ n xin xét xử vắng mặt.

- Người bị hại:

1. Ông Trần Xuân T, sinh năm: 1968 và à Vũ Th C, sinh năm: 1971. Có Đ n xin xét xử vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1965 và à Đoàn Th D, sinh năm: 1962. Có Đ n xin xét xử vắng mặt.

Cùng a chỉ: TDP 4, th trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai.

3. Ông Hồ Sư T2, sinh năm: 1968. Đ a chỉ: tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Bùi Ngọc D, sinh năm 1984; Đ a chỉ: thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Sỹ Đ, nguyên là Đại úy Công an công tác tại Trung Đoàn Cảnh sát C ộng (CSCĐ) T (Ẽ) thuộc Bộ Tư lệnh CSCĐ Bộ Công an ở a chỉ tổ 2 - phường C - thành phố P, tỉnh Gia Lai. Bản thân Đ không có thẩm quyền, chức năng tuyển dụng người vào làm trong lực lượng CSCĐ Bộ. Trong năm 2015 và 2016, Vũ Sỹ Đ ã dùng thủ oạn gian dối ưa ra thông tin Trung oàn CSCĐ T ang có chỉ tiêu tuyển ngành ngoài vào làm việc tại Trung oàn v i người có trình ộ Trung cấp y tế và cao ẳng kế toán trở lên, ản thân Đ có khả năng xin cho người khác vào làm việc tại Trung oàn CSCĐ T, xin cho người khác i nghĩa vụ trong lực lượng Công an, khi hết nghĩa vụ sẽ ược chuyển chuyên nghiệp phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân. Do tưởng Vũ Sỹ Đ nói thật nên ông Đinh Công T3 và anh Bùi Ngọc D là người quen iết v i Đ ã gi i thiệu vợ chồng ông Trần Xuân T, Nguyễn Văn T1 và Hồ Sư T2 gặp Đ ể nhờ xin việc làm và Đ chiếm oạt tiền, cụ thể như sau:

Hành vi chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng của vợ chồng ông Trần Xuân T - Vũ Thị C và 280.000.000 đồng của vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 - Đoàn Thị D ở Tổ dân phố 4, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai.

Vào khoảng tháng 7/2015, Vũ Sỹ Đ ến th trấn C - huyện C thì gặp và quen v i ông Đinh Công T3 ở Tổ dân phố 4 th trấn huyện C. Ông T3 mời Đ về nhà ch i. Đ gi i thiệu Trung oàn CSCĐ có mấy chỉ tiêu tuyển dụng ngành ngoài là kế toán và y tế nên ảo ông T3 xem à con hàng xóm ai có nhu cầu xin vào Trung oàn c ộng thì gi i thiệu ể Đ giúp. Khi nghe Đ nói như vậy, ông T3 tưởng là thật nên ã nói lại cho vợ chồng ông Trần Xuân T - Vũ Th C (em vợ của ông T3) và vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 - Đoàn Th D (là hàng xóm của ông T3). Vì Vợ chồng ông T có con gái là Trần Th H ã tốt nghiệp Trung cấp Y tế và vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 có con gái tên Nguyễn Đoàn Tùng V tốt nghiệp Cao ẳng Kế toán nhưng ều chưa có việc làm nên vợ chồng ông T, ông T1 nhờ ông T3 gi i thiệu gặp Vũ Sỹ Đ ể nhờ xin việc cho con của mình. Khi gặp Đ, vợ chồng ông T - à C nhờ Vũ Sỹ Đ xin cho cháu Trần Th H vào làm Y tế tại Trung Đoàn CSCĐ T. Vũ Sỹ Đ nhận lời giúp và ưa ra số tiền chi phí ể xin cho cháu H vào làm quân y là 220.000.000 ồng, nhưng khi giao hồ s xin việc phải ưa trư c 1/2 số tiền, ến khi có Quyết nh i làm thì phải ưa hết số tiền còn lại. Vợ chồng ông T1 - à D nhờ Vũ Sỹ Đ giúp xin cho cháu Nguyễn Đoàn Tùng V vào làm Kế toán tại Trung Đoàn CSCĐ T. Vũ Sỹ Đ nhận lời giúp và ưa ra chi phí là 280.000.000 ồng, Đ hứa sau 03 ( a) tháng cháu V sẽ có Quyết nh i làm và phải ưa hết số tiền còn lại.

Ngày 24/7/2015, do tin tưởng Vũ Sỹ Đ sẽ xin ược việc làm cho cháu H, cháu V nên ông Trần Xuân T, Nguyễn Văn T1 ã cùng ông Đinh Công T3 lên thành phố P - tỉnh Gia Lai gặp Đ. Ông T ã giao trư c cho Vũ Sỹ Đ số tiền 50.000.000 ồng, ông T1 giao trư c 100.000.000 ồng cho Vũ Sỹ Đ. Khi nhận tiền, Đ ã viết giấy mượn tiền giao lại cho ông T và ông T1.

Đến ngày 30/7/2015, Đ liên lạc v i gia ình ông T, ông T1 và nói ưa thêm tiền, sau ó Vũ Sỹ Đ ến nhà ông Đinh Công T3. Bà Vũ Th C ã ến nhà ông T3 ưa cho Đ số tiền 50.000.000 ồng, ông Nguyễn Văn T1 em 100.000.000 ồng ến nhà ông T3 ưa cho Đ. Đ viết iên nhận số tiền này thêm vào “Giấy mượn tiền” ngày 24/7/2015 và hứa hẹn trong vòng 03 ( a) tháng cháu H , cháu V sẽ có Quyết nh i làm.

Đến ngày 09/10/2015, Vũ Sỹ Đ tiếp tục yêu cầu ông T1 giao ủ số tiền nên ông T1 ã cùng ông T3 lên thành phố P ể giao thêm cho Đ số tiền 80.000.000 ồng, Đ viết Giấy nhận tiền giao cho ông T1.

Tổng cộng Đ ã nhận của vợ chồng ông Trần Xuân T 100.000.000 ồng ể xin cho cháu Trần Th H làm quân y của Trung oàn CSCĐ T và nhận của vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 280.000.000 ồng ể xin việc cho cháu Nguyễn Đoàn Tùng V làm kế toán Trung oàn CSCĐ T. Sau khi nhận số tiền trên, Đ không xin việc cho cháu H, cháu V mà ã sử dụng ể tiêu xài cá nhân. Quá thời hạn cam kết nhưng không thấy có quyết nh i làm như Đ ã hứa vợ chồng ông T, ông T1 hỏi thì Đ tiếp tục hứa hẹn và viết cam kết sẽ lo ược việc cho cháu H, cháu V, nếu không sẽ trả lại tiền nhưng sau ó không thực hiện. Vợ chồng ông T, ông T1 ã nhiều lần òi tiền nhưng Đ chỉ hứa hẹn mà không trả nên ã làm n tố cáo hành vi phạm tội của Đ.

Hành vi chiếm đoạt số tiền 175.000.000 đồng của ông Hồ Sư T2 ở tỉnh Gia Lai.

Trong năm 2015, anh Bùi Ngọc D ( a chỉ - thành phố P) có gặp và quen Vũ Sỹ Đ. Đ gi i thiệu ang công tác tại Trung oàn CSCĐ (Ẽ) Bộ Công an và nói có khả năng xin cho các thanh niên vào lính CSCĐ ộ và ở lại iên chế. Khi nghe vậy, anh D có nói cho ông Hồ Sư T2 (là à con phía vợ anh D) iết. Do ông T2 có con trai là Hồ Sư Đ chưa có việc làm nên ông T2 nhờ D ưa ến gặp Đ ể xin cho cháu Đ. Ngày 27/12/2015, ông T2 cùng em trai là Hồ Sỹ Lợi (trú tại tổ 1 - phường Thống Nhất - thành phố P) và Bùi Ngọc D ến n i ở trọ của Vũ Sỹ Đ tại - thành phố P. Tại ây, ông T2 nhờ Vũ Sỹ Đ lo cho con của ông T2 là Hồ Sư Đ ược thực hiện nghĩa vụ Công an nhân dân và ược iên chế chuyên nghiệp trong ngành Công an khi cháu Đ hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Vũ Sỹ Đ nhận lời giúp và nói chi phí là 220.000.000 ồng, do không có ủ tiền nên ông T2 ã giao trư c cho Vũ Sỹ Đ số tiền 150.000.000 ồng. Đ viết giấy iên nhận số tiền này giao cho ông T2, có sự chứng kiến của ông Hồ Sư Lợi. Đ nói ông T2 về làm hồ s cho cháu Đ ể ưa cho Đ. Tháng 02/2016, sau khi ông T2 giao hồ s của cháu Đ cho Vũ Sỹ Đ, lấy lý do Bằng tốt nghiệp phổ thông trung học của cháu Đ là Bằng ổ túc nên không ủ iều kiện tham gia thực hiện nghĩa vụ và xét iên chế chuyên nghiệp trong ngành Công an, Đ nói ông T2 ưa thêm cho Đ số tiền 25.000.000 ồng ể Đ chạy lo Bằng tốt nghiệp PTTH chính quy cho cháu Đ. Do tin tưởng Đ nói thật nên ông T2 ã ưa cho anh Bùi Ngọc D số tiền 25.000.000 ồng ể nhờ anh chuyển lại cho Đ và sau ó anh D ã giao cho Đ số tiền này, việc giao tiền không có giấy iên nhận. Tổng cộng Vũ Sỹ Đ ã nhận 175.000.000 ồng của ông Hồ Sư T2, số tiền này Đ không lo việc cho cháu Đ như ã hứa mà sử dụng số tiền trên ể tiêu xài cá nhân. Đầu năm 2017, thấy Vũ Sỹ Đ không lo ược cho cháu Hồ Sư Đ i nghĩa vụ trong ngành Công an nên ông T2 ã yêu cầu Đ trả lại tiền, Đ hứa hẹn nhiều lần nhưng không trả lại tiền nên ông T2 ã làm n tố cáo hành vi phạm tội của Đ (BL số 6, 67-70: Đơn tố cáo và lời khai bị hại; BL số 20: Giấy nhận tiền; BL số 71, 72: Lời khai người làm chứng; BL số 73, 74: Lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; BL Số 48, 49: Biên bản làm việc; BL số 107-110: Lời khai bị can).

Qua giám nh chữ viết, chữ ký, tại Bản giám nh số 19/KLGĐ ngày 10/12/2017 và số 102/KLGĐ ngày 19/01/2018 của phòng KTHS Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Chữ viết, chữ ký ứng tên “Vũ Sỹ Đ” trên các tài liệu cần giám nh ký hiệu từ A, A1 ến A7 (02 giấy mượn tiền 24/7/2015, giấy nhận tiền ngày 09/10/2015, Bản cam kết ngày 15/12/2016; giấy cam kết ngày 13/3/2015, 02 giấy cam kết ngày 11/7/2016, 01 giấy biên nhận ngày 27/12/2015) so v i chữ viết, chữ ký của Vũ Sỹ Đ trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người viết và ký.

Về dân sự: Hiện nay, Vũ Sỹ Đ chưa ồi thường gì cho các hại. Các

hại yêu cầu Vũ Sỹ Đ phải hoàn trả toàn ộ số tiền ã chiếm oạt.

Tại B n án hình s s thẩm s 09/2019/HS-ST ngày 06/3/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đ quy t định:

Tuyên ố cáo Vũ Sỹ Đ phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng iểm a khoản 4 Điều 139 BLHS năm 1999; Điều 38; các iểm s, v khoản 1 Điều 51; iểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015, xử phạt:

B cáo Vũ Sỹ Đ 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày cáo

ắt i thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự 2015;

Buộc cáo Vũ Sỹ Đ phải có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Trần Xuân T, à Vũ Th C số tiền 100.000.000 ồng; trả cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, à Đoàn Th D số tiền 280.000.000 ồng; trả cho ông Hồ Sư T2 số tiền 175.000.000 ồng. Tổng cộng là 555.000.000 ồng

Ngoài ra, ản án s thẩm còn quyết nh về án phí và quyền kháng cáo theo quy nh của pháp luật.

Ngày 19/3/2019 cáo Vũ Sỹ Đ có n kháng cáo v i nội dung: Kháng cáo toàn ộ nội dung ản án s thẩm và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay:

B cáo Vũ Sỹ Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng:

Về hành vi phạm tội của các cáo ã rõ. Quá trình xét xử phúc thẩm

cáo Vũ Sỹ Đ ã khắc phục toàn ộ số tiền ã chiếm oạt cho người hại và ược những người hại làm n xin ãi nại và giảm nhẹ hình phạt. Do ó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của cáo là có căn cứ, cần chấp nhận giảm cho cáo một phần hình phạt.

Ý kiến của bị cáo Vũ Sỹ Đ: B cáo thống nhất xét xử không cần có mặt của Luật sư. B cáo có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn nhưng ã vay mượn người thân khắc toàn ộ số tiền cho những người hại và ược họ làm n ãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho cáo. Vì vậy, ề ngh Hội ồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo, Hội ồng xét xử xét thấy:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, cáo ã khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp v i lời khai của cáo tại C quan iều tra, phù hợp v i lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ ã thu thập có trong hồ s vụ án. Do ó, có ủ c sở ể kết luận: Vũ Sỹ Đ, nguyên là Đại úy Công an công tác tại Trung Đoàn cảnh sát c ộng T thuộc Bộ tư lệnh cảnh sát c ộng Bộ công an óng tại Gia Lai không có thẩm quyền, chức năng tuyển dụng người vào làm trong lực lượng cảnh sát c ộng của ộ. Tuy nhiên, từ năm 2015 ến năm 2017, Vũ Sỹ Đ ã dùng thủ oạn gian dối ưa ra thông tin Trung oàn cảnh sát c ộng T n i Đ ang công tác có chỉ tiêu tuyển người ngoài vào làm việc tại Trung oàn v i người có trình ộ Trung cấp y tế và Cao ẳng kế toán trở lên, Đ có khả năng xin cho người khác vào làm việc, xin i nghĩa vụ trong lực lượng công an, khi hết nghĩa vụ sẽ ược chuyển chuyên nghiệp phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân. Do tin tưởng Đ, nên ông Đinh Công T3 và Bùi Ngọc D là hai người quen iết v i Đ ã gi i thiệu vợ chồng ông Trần Xuân T, à Vũ Th C; ông Nguyễn Văn T1, à Trần Th D và ông Hồ Sư T2 ể nhờ xin việc và Đ chiếm oạt số tiền là 555.000.000 ồng. Sau khi nhận ược tiền, Đ ã sử dụng số tiền chiếm oạt tiêu xài cá nhân hết.

Xét tính chất, mức ộ và hậu quả do hành vi phạm tội của cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, ã trực tiếp xâm phạm ến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng xấu ến trật tự tr an trên a àn, ảnh hưởng ến uy tín của ngành Công an. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc, ể cải tạo và giáo dục riêng ối v i cáo và răn e, phòng ngừa chung cho xã hội.

Do hành vi của cáo Vũ Sỹ Đ thực hiện trư c ngày 01/01/2018 (ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật), theo quy nh tại iểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 không có lợi cho b cáo so v i iểm a khoản 4 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999, nên Toà án cấp s thẩm áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 ể xét xử ối v i cáo là úng pháp luật.

Toà án cấp s thẩm khi quyết nh hình phạt ã xem xét và áp dụng ầy ủ các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của cáo như: Về tình tiết giảm nhẹ: cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần ầu, trong quá trình iều tra và tại phiên tòa cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến ấu, công tác ược tặng thưởng Huy chư ng Chiến sĩ vẻ vang, Chiến sỹ tiên tiến ã xử phạt cáo 12 năm tù là có căn cứ. Sau khi xét xử s thẩm, cáo cáo ã khắc phục ồi thường toàn ộ số tiền ã chiếm oạt cho người hại và ược người hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho cáo.

Từ những phân tích trên, Hội ồng xét xử xét thấy tuy hoàn cảnh kinh tế gia ình gặp nhiều khó khăn nhưng cáo ã khắc phục ồi thường toàn ộ số tiền ã chiếm oạt 555.000.000 ồng cho người hại và ược người hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự m i phát sinh tại cấp phúc thẩm ược qui nh tại iểm khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; ồng thời, áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 ể xem xét, cân nhắc giảm nhẹ thêm một phần hình phạt ể cáo thấy ược sự khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo tốt, có iều kiện s m hoà nhập cộng ồng xã hội, trở thành công dân có ích cho xã hội. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp. Do ó, chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của cáo, sửa Bản án hình sự s thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Về án phí: Do kháng cáo ược chấp nhận nên cáo không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo qui nh của pháp luật.

. Các quyết nh khác của Bản án hình sự s thẩm không có kháng cáo, không kháng cáo, kháng ngh ã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh Hội ồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ iểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên xử:

1. Chấp nhận kháng cáo của cáo Vũ Sỹ Đ; sửa Bản án hình sự s thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 06/3/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

2. Áp dụng iểm a khoản 4 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999; các iểm b, s, v khoản 1 Điều 51; iểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt:

B cáo Vũ Sỹ Đ 07 ( ảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày cáo

ắt i thi hành án.

3. Về dân sự: B cáo Vũ Sỹ Đ ã khắc phục toàn ộ số tiền ã chiếm oạt của những người hại 555.000.000 ồng.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

B cáo Vũ Sỹ Đ không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết nh khác của Bản án hình sự s thẩm không có kháng cáo, không kháng cáo, kháng ngh ã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh ; việc thi hành án ược thực hiện theo quyết nh của Bản án hình sự s thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 06/3/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

N i nhận:

Cỡ chữ