- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 277/2017/HSST Ngày 28-8-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Cải.
2. Bà Vương Thị Minh Tân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Việt Bằng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 28-8-2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 251/2017/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251/2017/QĐXX-HSST ngày 14-8-2017 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Ngọc T, sinh năm 1970.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số 237 đường H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Trình độ văn hóa: 12/12;
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.
Họ và tên bố: Phạm Ngọc D (đã chết).
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1943.
Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ tư.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 22-02-1997 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phúc thẩm phạt 30 tháng từ nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Cướp tài sản công dân”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10-5-2017, chuyển tạm giam từ ngày 19-5-2017 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N.
Bị cáo Phạm Ngọc T có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 10-5-2017, Phạm Ngọc T đang đi xe đạp trên đường N, thành phố N thì Tổ công tác Công an phường T, thành phố N kiểm tra hành chính, thu giữ và niêm phong theo quy định của pháp luật 01 gói ma túy T khai là heroin vừa mua với giá 100.000 VNĐ để sử dụng, tạm giữ của T chiếc xe đạp Mini màu xanh đã cũ đồng thời đưa T và người làm chứng về trụ sở Công an lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.
Bản kết luận giám định số 386/GĐKTHS ngày 12-5-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong do Cơ quan điều tra Công an thành phố N trưng cầu giám định là chất ma túy, loại ma túy heroin, khối lượng 0,179 gam.
Bản cáo trạng số 262/QĐ-KSĐT ngày 14-7-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Phạm Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ heroin là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do bị nghiện nên bị cáo đã đi mua 100.000 VNĐ được 01 gói ma túy heroin với mục đích để sử dụng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.
Bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Ngọc T theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội khóa 14: Phạt bị cáo Phạm Ngọc T từ 15 tháng đến 18 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma tuý đã thu giữ của Phạm Ngọc T.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Phạm Ngọc T tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định, Cơ quan điều tra Công an thành phố N tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Đối với chiếc xe đạp Mini màu xanh tạm giữ của Phạm Ngọc T xét thấy không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị K (Mẹ đẻ của T).
Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử khoan hồng để bị cáo cải tạo trở thành người lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Ngọc T có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; biên bản mở niêm phong vật chứng và bản kết luận giám định số 386/GĐKTHS ngày 12-5-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 10-5-2017, Phạm Ngọc T đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại ma túy heroin, khối lượng là 0,179 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Ngoài ra, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội khóa 14 quy định áp dụng các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng có lợi cho người phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng quy định của khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và các tình tiết nêu trên khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 “... Người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền”. Xét thấy bị cáo Phạm Ngọc T tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Phạm Ngọc T, tài liệu điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ xác định. Do đó, Cơ quan điều tra Công an thành phố N tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe đạp Mini màu xanh tạm giữ của Phạm Ngọc T xét thấy không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị K (Mẹ đẻ của T) là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của Phạm Ngọc T là vật Nhà nước cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Ngọc T nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội khóa 14.
- Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc T 15 (Mười lăm) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 10-5-2017.
2. Xử lý vật chứng, tài sản:
- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo Phạm Ngọc T.
Số vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10-7-2017 giữa Công an thành phố N với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Ngọc T phải nộp 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo:
- Áp dụng Điều 234 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo Phạm Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát NDTP. N; - Công an TP. N; - Chi cục thi hành án TP. N; - Bị cáo; - Lưu VT; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Đức Nguyên |