- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh P - Trộm cắp tài sản - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 276/2026/HS-ST Ngày: 12 – 02 – 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thu Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Lại Văn Khoa – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2
- Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Thành
phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai (thủ tục rút gọn) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 121/2026/HSST ngày 29 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2026/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:
Trần Minh P, sinh năm 1973; Nơi thường trú: Số X đường V, Khu phố 4,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Số X đường V, Khu phố 4, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 10/12; Cha: Trần Đình P (chết); Mẹ: Lê Mỹ N (đã chết); Vợ: Lê Thị Thanh Q (đã chết); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/12/2025, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Phạm Hoàng Đăng S, sinh năm 2008; (vắng mặt)
Địa chỉ: X Đường số 182, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/11/2025, Trần Minh P đang đi bộ ngoài
đường thì thấy trong Chùa Ông thuộc địa chỉ số X đường K, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh có đông người đang chơi bóng rổ nên P nảy sinh ý định vào tìm tài sản sơ hở để lấy trộm. Khi vào trong thì P thấy 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax ốp lưng màu xám đen để ở trên ghế đá thứ hai bên phải sân bóng rổ cùng 01 chiếc ba lô của anh Phạm Hoàng Đăng S, sinh năm 2008 nên P đi lại ngồi cạnh chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax của anh S, lợi dụng lúc không có ai để ý, P dùng tay phải lấy trộm chiếc điện thoại Iphone 11 Promax giấu vào túi quần bên phải rồi nhanh chóng tẩu thoát. P đến cửa hàng Hải Viễn Mobile thuộc địa chỉ số X đường K, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh và cửa hàng điện thoại di động Đức Thuận thuộc địa chỉ X đường P, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh bán thì chủ của hai cửa hàng trên không mua do điện thoại không có mật khẩu. P tiếp tục mang đến cửa hàng điện thoại khác (không nhớ rõ địa chỉ) bán được 300.000 đồng. Số tiền này P tiêu xài cá nhân hết. Sau khi anh S chơi bóng rổ xong thì quay lại ghế đá để lấy đồ thì phát hiện điện thoại di động Iphone 11 Promax đã bị mất nên đến cơ quan Công an trình báo sự việc (BL: 51).
Ngày 16/11/2026, chị Trần Lê Duy L (là con gái của Trần Minh P) biết được
sự việc P trộm cắp điện thoại của người khác nên đã chủ động đưa P đến Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để tự thú, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên (BL: 52, 60-61).
Kết luận định giá số 01/KL-HĐĐGTS ngày 23/11/2025 của Hội đồng định
giá tài sản Ủy ban nhân dân phường T kết luận: 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, 256Gb, màu xanh, đã qua sử dụng có giá là 6.750.000 đồng (BL: 38-39).
*Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: 01 USB có chứa đoạn
video ghi nhận nội dung sự việc; 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, 256Gb, màu xanh (không thu hồi được).
Trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Hoàng Đăng S yêu cầu bồi thường số tiền
9.500.000 đồng, bị can P chưa bồi thường (BL: 65).
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/CT-VKSKV2 ngày
28/01/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Minh P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Minh P về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50
Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025, xử phạt bị cáo Trần Minh P từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Minh P đều thành khẩn khai báo, không có ý kiến
bào chữa, tranh luận, đồng ý bồi thường số tiền 9.500.000 đồng cho bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Trần Minh P nói lời sau cùng: Mong được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc bị hại vắng
mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành
phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và khung hình phạt: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo
tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Trần Minh P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/11/2025, Trần Minh P lợi dụng lúc đông
người chơi bóng rổ tại Chùa Ông (phường T) đã trộm 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max của anh Phạm Hoàng Đăng S để trên ghế đá rồi tẩu thoát. Sau đó, P mang điện thoại đi bán được 300.000 đồng và tiêu xài hết. Ngày 16/11/2025, P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Hành vi của Trần Minh P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và
hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025. Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trần Minh P về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra bị cáo, truy tố và xét xử bị cáo đã tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền
sở hữu tài sản của cá nhân, gây mất trật tự trị an, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025 để đưa ra mức án phù hợp cho bị cáo, vừa đảm bảo tính nghiêm minh, vừa thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
. Về trách nhiệm dân sự:
Anh Phạm Hoàng Đăng S yêu cầu bồi thường số tiền 9.500.000 đồng. Tại
phiên tòa, bị cáo Trần Minh P đồng ý bồi thường cho anh S số tiền 9.500.000 đồng, nên ghi nhận ý kiến này của bị cáo.
. Về vật chứng vụ án:
- 01 USB có chứa đoạn video ghi nhận nội dung sự việc nên cần lưu hồ sơ
vụ án;
- 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, 256Gb, màu xanh (không thu hồi được).
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ
thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy
định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung
năm 2017, 2025.
Tuyên bố bị cáo Trần Minh P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, i, s khoản 1 Điều 51, Điều
38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Xử phạt bị cáo Trần Minh P 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2025.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Minh P bồi thường cho bị hại
anh Phạm Hoàng Đăng S số tiền 9.500.000 (chín triệu, năm trăm nghìn) đồng.
3. Về xử lý vật chứng: Điều 107 Bộ luật tố tụng hình năm 2015:
- Lưu hồ sơ vụ án 01 USB có chứa đoạn video liên quan đến vụ án.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Trần Minh P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí
hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Trần Minh P phải nộp 475.000 (bốn trăm bảy mươi lăm nghìn)
đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình
sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị
hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân KV.2 – TP. Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự Tp. Hồ Chí Minh; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thu Phương |