vanban.org

Bản án 276/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 21/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Nguyễn Duy Ph 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Duy Ph cho UBND phường Đ, thành phố H, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 276/2023/HSST
Ngày: 21-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quý

Bà Nguyễn Thị Loan

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hằng- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 291/2023/HSST, ngày 23 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy Ph, sinh năm 1962; Giới tính: Nam

HKTT và Nơi ở hiện nay: Số 40 L, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy P (đã chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1924; Có vợ là Nguyễn Thị T (đã chết), có 02 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1995;

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn Ấ, sinh năm 1960 (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Phố 5, phường Q, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 7giờ 45 phút ngày 11/01/2023, tại ngã ba đường L, phường Đ, thành phố H; Nguyễn Duy Ph đang chờ khách đi xe ôm thì có tranh cãi với một tốp người làm nghề bốc vác tại quán nước về việc khuân vác gốc đào cho những người bán đào, quất ngày Tết. Ph nói với nhóm bốc vác là “Bọn bay không bê nổi gốc đào to đâu”, Ông Nguyễn Văn Ấ là người bốc vác ở đấy nghe thế đã văng tục, chửi bậy. Ph nghĩ ông Ấ chửi mình nên đã dùng chiếc điếu cày đang mượn của ông Ch để hút thuốc lào đánh vào vùng mặt ông Ấ. Khi thấy ông Ấ chảy máu ở mặt thì Ph lấy xe máy bỏ chạy. Ông Ấ bị thương phải nằm điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa. Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ông Nguyễn Văn Ấ ngày 11/01/2023 xác định: 01 vết thương vùng thái dương bên phải, KT (3x1)cm, bờ mép sắc gọn; 01 vết thương vùng tháp mũi sưng nề, rỉ máu, KT (2x1)cm, bờ mép sắc gọn.

Ngày 12/01/2023, ông Nguyễn Văn Ấ có đơn đề nghị giám định thương tích và khởi tố vụ án hình sự.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 103/2023/TgT ngày 21/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm thương tích gây nên đối với ông Nguyễn Văn Ấ là 12%.

Về dân sự: Bị hại và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường số tiền 28.000.000đ, ông Nguyễn Văn Ấ không yêu cầu bồi thường dân sự.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc điếu cày bằng tre, dài 60cm, đường kính 4,5cm. Chiếc điếu này là của ông Đỗ Văn Ch, ông Ch không có yêu cầu bồi thường gì.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Duy Ph đã thành khẩn khai bào hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại cáo trạng số 234/CT-VKS, ngày 21/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố Nguyễn Duy Ph về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích”, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

Đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Bị hại tự nhận mình có lỗi trong việc xảy ra xô xát dẫn đến thương tích và có đơn đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Duy Phg khai nhận: Vào khoảng 7giờ 45 phút ngày 11/01/2023, tại ngã ba đường L, phường Đ, thành phố H; Nguyễn Duy Ph đã dùng chiếc điếu cày làm bằng tre đánh vào vùng mặt ông Nguyễn Văn Ấ. Hậu quả ông Ấ bị tổn hại 12% sức khỏe.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Duy Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà bị cáo đã dùng hung khí là chiếc điếu cày đánh gây thương tích cho người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại để khắc phục hậu quả; Bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội và là hội viên hội cựu chiến binh. Bị cáo có đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền nơi cư trú cũng đủ sức giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

Về phần dân sự: Bị hại và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường, Bị hại không có yêu cầu, đề nghị bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điếu cày là công cụ bị cáo phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Nguyễn Duy Ph 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Duy Ph cho UBND phường Đ, thành phố H, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68; Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: Một chiếc điếu cày bằng tre, dài 60cm, đường kính 4,5cm, nỏ điếu bằng kim loại. Đã được Công an phường Đ niêm phong.

Hiện tang vật đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 198/2023/THA ngày 23/6/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá và Công an thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14. Bị cáo Nguyễn Duy Ph phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ