vanban.org

Bản án 276/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 08/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Việt H phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vũ Việt H 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08-4-2023. Biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao, 01 cờ lê bằng kim loại, 01 áo mưa, 01 mũ bảo hiểm, 01 áo khoác, 01 quần vải có đeo thắt lưng ở cạp quần, 01 khẩu trang (chi tiết vật chứng ghi tron… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Việt Hùng - CGTS - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Việt H phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 276/2023/HS-ST
Ngày: 08-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Văn Giản

Bà Trần Thị Ánh Tuyết.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 259/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Việt H; sinh năm 1980 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số A3P2 Q, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn C và bà Nguyễn Thị L; tiền án: không; tiền sự: ngày 22-10-2020, Toà án nhân dân huyện B Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 21 tháng kể từ ngày 29-7-2020 (chấp hành xong ngày 29-4-2022), ngày 12-12-2022, Công an quận B Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác”; nhân thân: ngày 19-3-2004, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng, ngày 01-3-2019, Công an xã B, huyện B Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh nhau”; bị bắt, tạm giữ ngày 08-4-2023, chuyển tạm giam ngày 14-4-2023; có mặt.

- Bị hại: Ông Doãn Minh Đ; sinh năm 1970; nơi cư trú: số 424 đường Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều tối ngày 07-4-2023, Vũ Việt H đến cửa hàng bán đồ gia dụng tại địa chỉ P9 đường H phường N thành phố N mua của cháu Phạm Minh T, sinh ngày 17-01-2006, trú tại 3A 2 tầng số 2 Quân khu A phường N thành phố N 01 con dao dạng dao gọt hoa quả dài khoảng 20cm, cán dao bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu, một cạnh sắc, có mũi nhọn. H mang về nhà dùng băng dính trong suốt dán quanh phần cán dao, cuốn dây chun ở vị trí nối giữa cán dao và lưỡi dao mục đích để làm hung khí mục đích thực hiện hành vi cướp tài sản. Tối 08-4-2023, H để con dao trên vào trong cốp xe máy và tháo biển kiểm soát 51R6-9512 của xe máy Yamaha Nouvo màu đen ra rồi mặc áo khoác dài tay màu ghi xám, quần dài màu xanh, đội mũ bảo hiểm màu ghi, đeo khẩu trang màu trắng điều khiển xe đi từ nhà qua đường S rẽ vào đường T là khu vực vắng người qua lại. Khi đi đến phía sau trường trung học cơ sở H đường T phường Trần Quang Kh thành phố N, H dựng xe máy vào sát lề đường, đầu xe máy quay ra phía đường Song Hào, sau đó mở cốp xe máy lấy một áo mưa (dạng áo khoác) màu xanh đen mặc lên người và lấy con dao trong cốp xe máy đã chuẩn bị từ trước cầm ở tay phải rồi ngồi lên trên xe máy chờ người qua đường đi qua để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Đến khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, H phát hiện thấy ông Doãn Minh Đ điều khiển xe Honda AirBlade màu đen biển kiểm soát 18B2-722.90 đang đi đến theo hướng từ đường Nguyễn Văn Trỗi vào đường Tiền Phong. H xuống xe đi về phía ông Đ, tay phải cầm con dao giơ lên cao qua đầu, mũi dao hướng về phía ông Đ, tay trái giơ sang ngang để chặn xe ông Đ lại. Ông Đ đi chậm lại và dừng xe cách H khoảng 01 mét, H cầm dao đe doạ và nói "Tao cùng đường rồi, mày bỏ ví với điện thoại ra đây". Do lo sợ bị H dùng dao gây thương tích nên ông Đ dựng chân chống, bước xuống rồi lùi lại về phía sau đuôi xe và nói “Anh không có tiền đâu, chờ anh một chút”. H tiếp tục cầm dao đe doạ: “Mày bỏ ví ra đây không tao đâm mày chết”. Ông Đ tiến lên định rút chìa khoá xe máy thì H áp sát đầu xe, tay trái giữ lấy chìa khoá xe ông Đ, tay phải cầm dao giơ lên cao đe doạ và nói: “Để chìa khoá đấy không tao đâm chết”. Lo sợ H sẽ đâm gây thương tích cho mình nên ông Đ lùi lại phía sau đuôi xe để giữ khoảng cách với H. Đúng lúc này, anh Lương Thành Nam, sinh năm 1983, trú tại 36/371 Nguyễn Văn Trỗi, phường N, thành phố N điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1-255.97 đi từ đường Song Hào rẽ vào đường Tiền Phong đi ngang qua vị trí H và ông Đ đang đứng, ông Đ liền hô lên: “Cướp, cướp đấy em ơi”. Anh Nam thấy vậy điều khiển xe máy bỏ chạy vào khu vực cổng kho Ngoại Thương cũ cách đó khoảng 10m. Ông Đ lúc này cũng quay người bỏ chạy theo sau anh Nam. H không đuổi theo mà ở lại lấy xe máy Honda AirBlade màu đen biển kiểm soát 18B2-722.90 của ông Đ đi về nhà và bỏ lại chiếc xe máy Yamaha Nouvo không lắp biển kiểm soát của mình tại hiện trường. Về đến nhà, H sử dụng 01 cờ lê bằng kim loại sáng màu tháo 02 gương chiếu hậu và tháo biển kiểm soát 18B2-722.90 của xe máy Honda AirBlade vừa chiếm đoạt được của ông Đ ra rồi lắp biển kiểm soát 51R6-9512 vào xe máy Honda AirBlade để tránh bị phát hiện. Ông Đ quay lại không thấy H và xe máy của mình nên đã đến Cơ quan Công an trình báo.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, phát hiện thu giữ 01 chiếc xe máy Yamaha Nouvo màu đen không lắp biển kiểm soát mà H để lại.

Ngày 08-4-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Việt H đồng thời thu giữ của H 01 xe máy Honda Airbale màu đen đã chiếm đoạt được của ông Đ cùng 02 gương chiếu hậu và 01 biển kiểm soát 18B2-722.90; 01 con dao dạng dao gọt hoa quả; 01 cờ lê bằng kim loại sáng màu mà H đã sử dụng để tháo gương và biển kiểm soát của xe máy chiếm đoạt được; 01 áo mưa có mũ màu xanh đen, 01 mũ bảo hiểm màu ghi, 01 áo khoác màu ghi xám, 01 quần vải màu xanh có đeo thắt lưng màu đen ở cạp quần, 01 khẩu trang màu trắng là trang phục mà H đã sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

Bản Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 19-04-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airbale màu đen, biển kiểm soát 18B2-722.90, đã qua sử dụng trị giá 9.600.000 đồng.

Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airbale màu đen kèm theo 01 biển kiểm soát 18B2-722.90 và 02 gương chiếu hậu xác định thuộc sở hữu của ông Doãn Minh Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho ông Đ. Ông Đ đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì.

Chiếc xe máy Yamaha Nouvo màu đen, biển kiểm soát 51R6-9512 là phương tiện H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ sau.

Bản Cáo trạng số 277/CT-VKS ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Vũ Việt H về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, bị cáo Vũ Việt H khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản của ông Doãn Minh Đ như bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vũ Việt H theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): tuyên bố bị cáo phạm tội “Cướp tài sản”; xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Việt H và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Vũ Việt H, lời khai các bị hại và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 08-4-2023, tại đường Tiền Phong phường Trần Quang Khải thành phố N tỉnh Nam Định, Vũ Việt H đã có hành vi dùng dao là phương tiện nguy hiểm đe dọa dùng vũ lực làm cho ông Doãn Minh Đ lâm vào tình trạng không thể chống cự được, chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airbale màu đen biển kiểm soát 18B2-722.90 trị giá 9.600.000 đồng của ông Doãn Minh Đ. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với tình tiết định khung là “Sử dụng phương tiện nguy hiểm”. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền sự bị xử lý hành chính và 02 lần bị xử lý vi phạm hành chính (đã được xóa tiền sự). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vấn đề dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề dân sự; do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, 01 cờ lê bằng kim loại sáng màu là công cụ phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội; 01 áo mưa, 01 mũ bảo hiểm màu ghi, 01 áo khoác màu ghi xám, 01 quần vải màu xanh có đeo thắt lưng màu đen ở cạp quần, 01 khẩu trang màu trắng là trang phục bị cáo đã sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không nhận lại nên tịch thu, tiêu hủy toàn bộ.

Đối với chiếc xe máy Yamaha Nouvo màu đen, biển kiểm soát 51R6-9512 là phương tiện H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ sau là đúng quy định của pháp luật.

Cháu Phạm Minh T khi bán dao cho H không biết mục đích H mua dao để sử dụng đi cướp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N không xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Vũ Việt H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Việt H phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vũ Việt H 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08-4-2023.

2. Biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao, 01 cờ lê bằng kim loại, 01 áo mưa, 01 mũ bảo hiểm, 01 áo khoác, 01 quần vải có đeo thắt lưng ở cạp quần, 01 khẩu trang (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Việt H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Việt H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là ông Doãn Minh Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ