- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hương G-Nguyễn Hữu V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hƣơng G.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 276/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 09-3-2023. V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Thải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Tý.
2. Ông Lê Văn Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Tiền Quí Nhân - Thư ký, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thƣơng Thƣơng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1652/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2022, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023, giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hƣơng G, sinh năm 1975,
Địa chỉ: Phường M, quận T, Thành phố H. Địa chỉ liên lạc: phường BTĐ, quận B, Thành phố H.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu V, sinh năm 1971,
Địa chỉ: phường TTĐ, Quận B, Thành phố H. Địa chỉ liên lạc: phường BTĐ, quận B, Thành phố H.
(Bà Nguyễn Thị Hương G và ông Nguyễn Hữu V có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, bà Nguyễn Thị Hương G, trình bày: Bà và ông Nguyễn Hữu V chung sống năm 2002, có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số I94, quyển số 02/02 ngày 23/12/2002 do UBND xã PS, huyện LH, tỉnh LĐ cấp. Trong quá trình chung sống, do có nhiều bất đồng quan điểm, không hòa hợp nên mâu thuẩn phát sinh trầm trọng không hàn gắn được. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên bà có yêu cầu được ly hôn với ông V.
Trong quá trình chung sống có 02 con chung là Nguyễn Công T, sinh ngày 31/8/2001 (Đã trưởng thành) và Nguyễn Quỳnh V, sinh ngày 02/4/2008. Bà G có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Nguyễn Quỳnh V, sinh ngày 02/4/2008 và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Hương G có yêu cầu để đôi bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà G khai nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Nguyễn Hữu V, trình bày: Ông xác nhận lời khai của bà Nguyễn Thị Hương G về thời gian chung sống, thời gian đăng ký kết hôn, nơi đăng ký kết hôn là hoàn toàn đúng sự thật và không bổ sung gì thêm. Ông cho rằng trong quá trình chung sống có nhiều bất đồng quan điểm, phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được. Đôi bên đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, nên ông cũng đồng ý ly hôn với bà G.
Trong quá trình chung sống có 02 con chung là Nguyễn Công T, sinh ngày 31/8/2001 (Đã trưởng thành) và Nguyễn Quỳnh V, sinh ngày 02/4/2008. Ông V yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Nguyễn Quỳnh V, sinh ngày 02/4/2008 và không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông V khai nhận có tài sản chung là 01 căn nhà tại phường BTĐ, quận B, Thành phố H và 01 xe ô tô biển số 51G-076.21. Sau khi ly hôn, ông sẽ yêu cầu giải quyết ở một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Ông V xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hương G vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với ông V và được trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Quỳnh V, sinh ngày 02/4/2008, bà không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, bà có yêu cầu để tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác, bà khai nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu V, đồng ý ly hôn với bà G và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Quỳnh V, sinh ngày 02/4/2008, ông không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con. Ông khai nhận có tài sản chung là 01 căn nhà tại phường BTĐ, quận B, Thành phố H và 01 xe ô tô biển số 51G-076.21. Ông sẽ yêu cầu giải quyết ở một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác, ông xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm xét xử, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật như thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; Tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; Thông báo và tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án đúng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, tuân thủ đúng pháp luật; Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng pháp luật.
Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Hương G và ông Nguyễn Hữu V chung sống năm 2002, có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số I94, quyển số 02/02 ngày 23/12/2002 do UBND xã PS, huyện LH, tỉnh LĐ cấp. Trong quá trình chung sống, đôi bên phát sinh mâu thuẫn nên bà G có yêu cầu ly hôn với ông V. Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà G được ly hôn với ông V. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Công T, sinh ngày 31/8/2001 (Đã trưởng thành) và Nguyễn Quỳnh V, sinh ngày 02/4/2008, giao cho bà G được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quỳnh V, sinh ngày 02/4/2008. Ghi nhận sự tự nguyện của bà G không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung, do các đương sự không có yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Hương G có đơn yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hữu V, bị đơn có địa chỉ tại phường BTĐ, quận B, Thành phố H. Đây là vụ án dân sự về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2]. Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Hương G và ông Nguyễn Hữu V tự nguyện chung sống năm 2002, có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số I94, quyển số 02/02 ngày 23/12/2002 do UBND xã PS, huyện LH, tỉnh LĐ cấp, đây là hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do có mâu thuẫn nên bà G có đơn yêu cầu ly hôn với ông V.
[2.1]. Qua yêu cầu của bà G và ý kiến của ông V, Hội đồng xét xử xét thấy, hạnh phúc gia đình phải được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu của cả vợ và chồng, đôi bên phải thật sự tin yêu, tôn trọng và chăm sóc lẫn nhau nhưng hiện tại thì bà G đã không còn tha thiết chung sống với ông V nữa, ông V cũng xác nhận đôi bên đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay nên cũng đồng ý ly hôn với bà G.
Ngày 01/12/2022, Tòa án nhân dân quận Bình Tân có văn bản số 1151/TAQBT về việc tham khảo ý kiến về tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà G và ông V tại UBND phường BTĐ, quận B, có kết quả trả lời: “...Bà Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 1975 và ông Nguyễn Hữu V, sn 1971, tạm trú phường BTĐ, quận B, TPH có kết hôn và chung sống với nhau. Trong thời gian cư ngụ tại địa phương, UBND phường chưa nhận được yêu cầu hòa giải mâu thuẫn giữa ông V và bà G. Vì vậy, không có thông tin để cấp cho Tòa án”.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập hòa giải, tác động để đôi bên được hàn gắn, đoàn tụ nhưng bà G vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với ông V, còn ông V thừa nhận đôi bên đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay và không thể hòa giải được mâu thuẫn nên ông cũng đồng ý ly hôn với bà G. Từ đó cho thấy, đôi bên không còn quan tâm đến nhau nữa, tình cảm vợ chồng của bà G và ông V đã thật sự phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc tiếp tục chung sống là không còn ý nghĩa mà có thể tác động xấu đến sự phát triển của con chung.
Từ những nhận định trên, nên yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hương G đối với ông Nguyễn Hữu V là có cơ sở chấp nhận.
[2.2]. Về con chung: Việc nuôi dưỡng, chăm sóc con là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ nhưng phải dựa trên cơ sở đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, bà G với ông V có 02 con chung là Nguyễn Công T, sinh ngày 31/8/2001 và Nguyễn Quỳnh V, sinh ngày 02/4/2008. Hiện nay, con chung Nguyễn Công T, sinh ngày 31/8/2001 đã trưởng thành, các bên không có yêu cầu nên Tòa không xét. Khi ly hôn, cả bà G và ông V đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ V, sinh ngày 02/4/2008 và không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con chung, nên có thể xác định cả bà G và ông V đều rất yêu thương con chung. Tuy nhiên, do trẻ V là bé gái nên rất cần có sự gần gũi chăm sóc trực tiếp của mẹ. Mặt khác, trẻ V đang được bà G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và có nguyện vọng được sống với mẹ, để đảm bảo sự ổn định cuộc sống hiện tại của con chung, không làm ảnh hưởng đến tâm lý và để đảm bảo việc phát triển tốt về mọi mặt của trẻ nên giao cho bà G tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quỳnh V là cần thiết và cũng đúng với nguyện vọng của trẻ.
Từ những nhận định trên, đối với yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Quỳnh V, sinh ngày 02/4/2008 của bà G là có cơ sở chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của bà G không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3]. Về tài sản chung: Bà G có yêu cầu để đôi bên tự thỏa thuận. Ông V khai nhận có tài sản chung là 01 căn nhà tại phường BTĐ, quận B và 01 xe ô tô biển số 51G-076.21. Ông sẽ yêu cầu giải quyết ở một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật sau khi ly hôn. Như vậy, cả bà G và ông V không có yêu cầu giải quyết tài sản chung trong vụ án này nên Tòa không xét. Dành quyền khởi kiện cho bà G và ông V về việc giải quyết tài sản chung trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[2.4]. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà G và ông V khai nhận không có, không yêu cầu giải quyết, nên Tòa không xét.
[3]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu: Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà G được ly hôn với ông V, giao cho bà G được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quỳnh V, sinh ngày 02/4/2008. Ghi nhận sự tự nguyện của bà G không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung, do các đương sự không có yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tại phiên Tòa là có căn cứ và cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4]. Về án phí: Do yêu cầu ly hôn được chấp nhận nên bà G phải chịu 300.000 đồng án phí về ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 203; Điều 220; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016 của UBTVQH.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hƣơng G.
1.1. Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Thị Hương G được ly hôn với ông Nguyễn Hữu V.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số I94, quyển số 02/02 ngày 23/12/2002 do UBND xã PS, huyện LH, tỉnh LĐ cấp không còn giá trị pháp luật kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Hương G được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Quỳnh V, sinh ngày 02/4/2008. Ghi nhận sự tự nguyện của bà G không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Nguyễn Hữu V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức gồm: Người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Hương G và ông Nguyễn Hữu V không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Tòa không xét. Dành quyền khởi kiện cho bà Nguyễn Thị Hương G và ông Nguyễn Hữu V về việc giải quyết tài sản chung trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
1.4. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Nguyễn Thị Hương G và ông Nguyễn Hữu V khai nhận không có, không yêu cầu giải quyết, nên Tòa không xét.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hương G phải chịu 300.000 đồng án phí về ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009842 ngày 21/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Hương G đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND quận Bình Tân; - CC THADS quận Bình Tân; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ; VP (Nhân). | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thành Thải |