- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Cao Huỳnh Trúc đối với ông Nguyễn Quốc Dũng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Cao Huỳnh Trúc đối với ông Nguyễn Quốc Dũng.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 276/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 11 - 2023 V/v “tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thanh Thảo;
2. Ông Lê Hồng Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Phụng - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
Ngày 24 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1025/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 303/2023/QĐXX-ST ngày 30/10/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 166/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10/11/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Cao Huỳnh Trúc, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Ấp Hoà Bình 1, xã Hiệp Hoà, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An (xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc Dũng, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Ấp Gò Cao, thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Cao Huỳnh Trúc trình bày:
Bà Trúc và ông Nguyễn Quốc Dũng xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An vào ngày 04/10/2004. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ. Ông bà đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Nhận thấy vợ chồng không thể hàn gắn nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Dũng.
Về con chung: Qúa trình chung sống, ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Quốc Duy, sinh ngày 11/8/2005 và Nguyễn Thị Trà My, sinh năm 20/9/2009. Hiện 02 con đang sống chung với bà. Sau khi ly hôn, bà Trúc yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Dũng cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Quốc Dũng vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án và không có ý kiến trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Cao Huỳnh Trúc nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Nguyễn Quốc Dũng có địa chỉ cư trú tại thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trúc và ông Dũng tự nguyện tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 04/10/2004 tại Uỷ ban nhân dân xã Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ phần trình bày của bà Trúc về mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn, hiện không còn sống chung, không quan tâm lo lắng cho nhau, bà Trúc vẫn giữ yêu cầu ly hôn. Ông Dũng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chứng tỏ ông Dũng không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà Trúc. Qua đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Trúc và ông Dũng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Cao Huỳnh Trúc.
Về con chung: Qúa trình chung sống, ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Quốc Duy, sinh ngày 11/8/2005 và Nguyễn Thị Trà My, sinh năm 20/9/2009. Bà Trúc yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng các con chung. Tuy nhiên, hiện cháu Duy đã trưởng thành nên HĐXX không xem xét giải quyết. Đối với cháu My từ lúc sinh ra đến nay đều sống cùng mẹ, được mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phát triển khỏe mạnh, toàn diện, cháu My cũng có nguyện vọng sống cùng mẹ nên căn cứ vào điều kiện của các bên; quyền lợi về mọi mặt và lợi ích của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Nguyễn Thị Trà My cho bà Trúc tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Dũng không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Trúc không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trúc trình bày không có; không yêu cầu giải quyết. Ông Dũng vắng mặt không có ý kiến trình bày về tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Trường hợp, sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp liên quan đến tài sản chung và nợ chung được quyền khởi kiện thành vụ án khác.
Về án phí: Nguyên đơn bà Cao Huỳnh Trúc phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Cao Huỳnh Trúc đối với ông Nguyễn Quốc Dũng.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Huỳnh Trúc được ly hôn với ông Nguyễn Quốc Dũng.
Về con chung: Bà Cao Huỳnh Trúc được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Trà My, sinh năm 20/9/2009.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Quốc Dũng không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Trúc không yêu cầu.
Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Cao Huỳnh Trúc phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà Trúc đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005921 ngày 06/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà Trúc đã nộp xong.
Về quyền kháng cáo: Bà Cao Huỳnh Trúc và ông Nguyễn Quốc Dũng được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Các đương sự; - Uỷ ban nhân dân xã Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa (để ghi vào sổ hộ tịch); - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Tho |