vanban.org

Bản án 276/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 24/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự; Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ph phải bồi thường cho anh Hồ Võ Thanh Q 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Ph- Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 276/2022/HS-ST
Ngày 24 tháng 8 năm 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Bời

Ông Đào Thanh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Anh– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Hƣng – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 178/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2022, quyết định hoãn phiên tòa số 170/2022/HSST-QĐ ngày 19 tháng 7 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 190/2022/HSST-QĐ ngày 09 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Ph, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2001, tại: Khánh Hòa; hộ khẩu thường trú: xx P1, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966 và bà Trịnh Thị Kim V (đã chết); Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Hồ Võ Thanh Q, sinh năm 1991

Trú tại: yy P1, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1997, trú tại: xx P1, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

* Ngƣời làm chứng:

- Anh Trần Minh Q1, sinh năm 1989, trú tại: zz P1, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1995, trú tại: xx P1, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966, trú tại: xx P1, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 ngày 19 tháng 9 năm 2021, Nguyễn Văn K và em ruột Nguyễn Văn Ph đến trường tiểu học P để mua thức ăn. Trên đường đi K thấy một con chim bồ câu đã chết nằm trước cổng trường nên K nhặt con chim bồ câu mang về nhà. Hồ Võ Thanh Q và Trần Minh Q1 nhìn thấy trên tay K cầm chim bồ câu thì cho rằng K và P bắn chim bồ câu của nhà Q1 nên Q và Q1 đến nhà K, P tại xx P1, phường P, thành phố N để nói chuyện về việc bắn chim bồ câu.

Tại nhà K, K và Q1 kình cãi nhau về việc bắn chim bồ câu, sau đó Q1 đi ra ngoài thì Q đi vào sân tiếp tục kình cãi và thách thức K, K bỏ đi vào trong nhà. Tuy nhiên, Q không về mà đứng ngoài sân tiếp tục thách thức. Lúc này, P đuổi Q đi về thì Q thách thức P “tụi mày thích chém thì ra đây chém tao đi". P bực tức đi vào phòng ngủ lấy một cây rựa cán bằng gỗ lưỡi bằng kim loại dài khoảng 35cm chạy đến chỗ Q đang đứng rồi dùng tay phải cầm rựa giơ lên cao chém 02 nhát từ trên xuống vào người của Q, nhát đầu tiên Q né được, nhát thứ hai Q đưa tay phải lên đỡ thì lưỡi rựa trúng vào cổ tay phải và mũi rựa sượt vào đầu của Q nên Q chạy ra ngoài.

Lúc này, K đang ở trong nhà nhìn thấy Q1 mở cốp xe thì cho rằng Q1 lấy hung khí để đánh lại nên K chạy đi lấy cây rựa cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 40cm ra đứng ở sân để hù dọa Q1. Sau đó, Q1 chở Q đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh K Hòa cấp cứu.

Ngày 23/9/2021, Hồ Võ Thanh Q có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 296/TgT-TTPY ngày 04/10/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh K Hòa kết luận:

- Vùng đỉnh phải có 01 vết sẹo kích thước nhỏ. Tỷ lệ thương tật 01%.

- Vùng cổ tay phải có 01 vết thương kích thước nhỏ. Tỷ lệ thương tật 01%.

- Vùng cổ tay phải có 01 vết thương (vết mổ) kích thước nhỏ. Tỷ lệ thương tật 01%.

- Vùng cổ tay phải có 01 vết thương (vết mổ) kích thước trung bình. Tỷ lệ thương tật 2%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hồ Võ Thanh Q là 5%.

Ngày 12 tháng 01 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang có Công văn số 163/CV-ĐCSHS đề nghị Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa làm rõ tổn thương thần kinh chi trên; cơ chế, tác nhân gây thương tích ở vùng đỉnh phải và cánh tay phải của Hồ Võ Thanh Q; thương tích của Q có nguy hiểm tính mạng không.

Ngày 18 tháng 01 năm 2022, Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa có công văn số 15/TTPY-KGĐ, xác định: Kết quả đo điện thần kinh cơ chi trên của Hồ Võ Thanh Q tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa ngày 05 tháng 01 năm 2022 không có bằng chứng tổn thương thần kinh trụ. Cơ chế hình thành thương tích do ngoại lực tác động. Vật gây ra thương tích: vật sắc. Thương tích của Hồ Võ Thanh Q không nguy hiểm đến tính mạng.

Tại bản Cáo trạng số 153/CT-VKSNT ngày 25 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ph về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường theo yêu cầu của người bị hại.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 cây rựa cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 35cm và 01 cây rựa cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 40cm.

- Bị cáo Nguyễn Văn Ph khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, đồng ý bồi thường 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) theo yêu cầu của người bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nha Trang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên đã được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 19 tháng 9 năm 2021, tại nhà số xx P1, phường P, thành phố N, Nguyễn Văn Ph đã dùng 01 cây rựa cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 35cm chém Hồ Võ Thanh Q gây thương tích tại cổ tay phải và đỉnh phải với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 5%.

Bị cáo dùng rựa là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong vụ án này, người bị hại cũng có một phần lỗi. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng hồ sơ vụ án thể hiện bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên nên cần buộc bị cáo bồi thường cho bị hại theo yêu cầu của bị hại.

Về vật chứng:

Đối với 01 cây rựa cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 35cm là công cụ phương tiện phạm tội và 01 cây rựa cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 40cm có giá trị sử dụng nhỏ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với Nguyễn Văn K: K cầm rựa đứng trước nhà sau khi P đã thực hiện xong hành vi gây thương tích cho Q và việc P gây thương tích cho Q là do P tự thực hiện, không có sự giúp sức của K. Vì vậy, K không đồng phạm với P khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích.

Về án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ph phải bồi thường cho anh Hồ Võ Thanh Q 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Quy định chung:

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy đối với 01 cây rựa cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 35cm và 01 cây rựa cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 40cm.

Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 thang 6 năm 2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo Nguyễn Văn Ph phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ