- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo Lê Khắc Tuấn, sinh năm 1983 tại tỉnh Thanh Hóa.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG ——————— Bản án số: 276/2018/HS-ST Ngày 28/9/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Anh Tuấn;
2. Ông Bùi Kim Châu Hổ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Nhung - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 274/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 282/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2018 đối với các bị cáo:
1. Huỳnh H, sinh năm 1991 tại tỉnh B; thƣờng trú: Ấp 14, xã V, huyện H, tỉnh B; nghề nghiệp: Tài xế lái xe; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Huỳnh Văn A, sinh năm 1973 và bà Lâm Thị T, sinh năm 1974; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 02/4/2018, có mặt tại phiên tòa.
2. Võ Ngọc H, sinh năm 1990 tại tỉnh K; thƣờng trú: Ấp B, xã Đ, huyện A, tỉnh K; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Võ Ngọc H (đã chết) và bà Châu Thị N, sinh năm 1954; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 02/4/2018, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1970; thƣờng trú: 330/54/4, Nguyễn Tất Thành, Khu phố B, Phƣờng M, Quận T, Thành phố H. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Thanh D, sinh năm 1997; thƣờng trú: 41/10B, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Huỳnh H và Võ Ngọc H là các đối tƣợng nghiện ma túy. Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 02/4/2018, Huỳnh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu vàng đen, biển số 59L1-037.93 chở Võ Ngọc H chạy đến đƣờng Phú Châu thuộc phƣờng Tam Phú, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một ngƣời thanh niên tên Thảo (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) để mua 02 gói ma túy với giá 500.000 đồng, mục đích mua về sử dụng, 02 gói ma túy đƣợc đựng trong 02 gói nylon miệng kéo dính có chứa tinh thể màu trắng. Huỳnh H cất 01 gói vào trong túi quần bên trái và đƣa cho Võ Ngọc H 01 gói, Võ Ngọc H cất vào trong ống quần bên phải, sau đó Huỳnh H điều khiển xe mô tô chở Võ Ngọc H về phòng trọ để sử dụng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, đến trƣớc quán bê thui Hải Mập, địa chỉ tổ 25, khu phố Bình Đƣờng 4, phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thì Huỳnh H dừng xe mô tô lại để nghe điện thoại, lúc này lực lƣợng Công an phƣờng An Bình thấy có nghi vấn nên đã kiểm tra. Huỳnh H và Võ Ngọc H tự nguyện mỗi ngƣời lấy ra 01 gói nylon bên trong có chứa tinh thể màu trắng nói là ma túy và giao nộp nên Công an phƣờng An Bình lập biên bản phạm tội quả tang.
Vật chứng trong vụ án: 02 gói nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô hiệu Suzuki màu vàng đen, biển số 59L1-037.93.
Căn cứ vào bản kết luận giám định số 204/MT-PC54 ngày 06/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon hàn kín (M1) có trọng lƣợng 0,1834g là ma túy loại Methamphetamine; tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon hàn kín (M2) có trọng lƣợng 0,2142g là ma túy loại Methamphetamine; mẫu vật hoàn lại sau giám định (M1) có trọng lƣợng 0,0700g và (M2) có trọng lƣợng 0,0706g.
Đối với ngƣời đàn ông tên Thảo đã bán ma túy cho Huỳnh H do chƣa rõ nhân thân, lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki màu vàng đen, biển số 59L1-037.93 là tài sản của anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn Đ cho Huỳnh H mƣợn làm phƣơng tiện đi lại và không biết Huỳnh H sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại cho anh Nguyễn Văn Đ.
Tại cáo trạng số 281/CT-VKS ngày 04 tháng 9 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo Huỳnh H và Võ Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Huỳnh H mức án từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng tù; xử phạt bị cáo Võ Ngọc H mức án từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô hiệu Suzuki màu vàng đen, biển số 59L1-037.93 do anh Nguyễn Văn Đ đứng tên chủ sở hữu. Anh Nguyễn Văn Đ không biết Huỳnh H sử dụng xe vào việc phạm tội, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại cho Nguyễn Văn Đ nên không đề nghị xem xét, giải quyết.
- Đối với ma túy loại Methamphetamine; mẫu vật hoàn lại sau giám định (M1) có trọng lƣợng 0,0700g và (M2) có trọng lƣợng 0,0706g là vật cấm lƣu hành, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa, trong phần thực hiện nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngƣời làm chứng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Chứng cứ xác định có tội:
Để có ma túy sử dụng, vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 02/4/2018 Huỳnh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu vàng đen, biển số 59L1-037.93 chở Võ Ngọc H chạy đến đƣờng Phú Châu thuộc phƣờng Tam Phú, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một ngƣời thanh niên tên Thảo (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) mua 02 gói ma túy với giá 500.000 đồng. Huỳnh H cất 01 gói vào trong túi quần bên trái và đƣa cho Võ Ngọc H 01 gói rồi Võ Ngọc H cất vào trong ống quần bên phải, sau đó Huỳnh H điều khiển xe mô tô chở Võ Ngọc H về phòng trọ để sử dụng. Khoảng 21 giờ cùng ngày khi đi đến trƣớc quán bê thui Hải Mập thuộc tổ 25, khu phố Bình Đƣờng 4, phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thì Huỳnh H dừng xe mô tô lại để nghe điện thoại, lúc này lực lƣợng Công an phƣờng An Bình thấy có nghi vấn nên đã kiểm tra. Huỳnh H và Võ Ngọc H tự nguyện mỗi ngƣời lấy ra 01 gói nylon bên trong có chứa tinh thể màu trắng và giao nộp nên Công an phƣờng An Bình lập biên bản phạm tội quả tang.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:
“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục mua bán, vận chuyển, sản xuất trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này chưa xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500gam.
c) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”
Nhƣ vậy, hành vi của các bị cáo tàng trữ ma túy loại Methamphetamine với trọng lƣợng (M1) 0,1834g và trọng lƣợng (M2) 0,2142g đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 281/CT-VKS ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Vụ án có đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ giữa những ngƣời cùng thực hiện. Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội ra sức tuyên truyền cho mọi ngƣời hiểu biết về tác hại của ma túy và ra sức phòng chống, các bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhƣng đã thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo là ngƣời lao động, là ngƣời nghiện ma túy, chƣa có tiền án, tiền sự.
Xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô hiệu Suzuki màu vàng đen, biển số 59L1-037.93 do anh Nguyễn Văn Đ đứng tên chủ sở hữu. Anh Nguyễn Văn Đ không biết Huỳnh H sử dụng xe vào việc phạm tội, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại cho Nguyễn Văn Đ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Xét 02 (hai) bì thƣ đƣợc niêm phong số 204/PC54 bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine; mẫu vật hoàn lại sau giám định (M1) có trọng lƣợng 0,0700g và (M2) có trọng lƣợng 0,0706g là vật cấm lƣu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Mức hình phạt nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
Đối với ngƣời đàn ông tên Thảo đã bán ma túy cho Huỳnh H do chƣa rõ nhân thân, lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Huỳnh H và Võ Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2018.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Võ Ngọc H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2018.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy một bì thƣ đƣợc niêm phong số 204/PC54 bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine; mẫu vật hoàn lại sau giám định (M1) có trọng lƣợng 0,0700g và (M2) có trọng lƣợng 0,0706g.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Huỳnh H và Võ Ngọc H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày niêm yết bản án . Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo (01);
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thị xã Dĩ An (01);
- Công an thị xã Dĩ An (01);
- Trại tạm giam CA tỉnh BD (01);
- Chi cục THADS thị xã Dĩ An (01);
- TAND tỉnh Bình Dƣơng (01);
- Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01);
- UBND X. V, H. H, T. B (01);
Nguyễn Thị Thụy
- UBND X. Đ, H. A, T. K (01);
- Phòng PV 27 CA tỉnh BD (01);
- Phòng PC 81 CA tỉnh BD (01);
- Lƣu: V.thƣ, HSVA (02). TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CH]Ủ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ DĨ AN
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH BÌNH DƢƠNG
Dĩ An, ngày 27 tháng 7 năm 2018
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoàn và bà Bùi Thị Thúy Lan.
Căn cứ Điều 299 và 326 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Vào hồi .... giờ .... phút, ngày 27 tháng 7 năm 2018 tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án Phạm Văn Tú và Lê Anh Nguyên bị truy tố về tội vận chuyển trái phép chất ma túy.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, Hội đồng xét xử thảo luận những vấn đề phải giải quyết nhƣ sau:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn Tú và Lê Anh Nguyên phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Kết quả biểu quyết 3/3.
2. Về điều luật và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Tú 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2018.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Anh Nguyên 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2018.
Kết quả biểu quyết 3/3.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy một bì thƣ đƣợc niêm phong số 168/PC54 bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine; trọng lƣợng sau giám định là 0,3261g.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).
Kết quả biểu quyết 3/3.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Phạm Văn Tú và Lê Anh Nguyên, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Kết quả biểu quyết 3/3.
Tuyên quyền kháng cáo theo luật định.
Kết quả biểu quyết 3/3.
Biên bản kết thúc vào lúc giờ
phút cùng ngày. Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ DĨ AN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH BÌNH DƢƠNG Số: /2017/HSST-QĐ
Dĩ An, ngày 11 tháng 12 năm 2017
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Anh Tuấn và ông Lê Phú Tâm
Căn cứ vào các Điều 79, 80, 88 và 228 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003;
Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 11 tháng 12 năm 2017 của Hội đồng xét xử sơ thẩm.
Xét thấy, cần thiết tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tạm giam bị cáo Lê Khắc Tuấn, sinh năm 1983 tại tỉnh Thanh Hóa.
Thƣờng trú: Tổ 13, xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Không.
Bị Toà án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy.
Theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mƣơi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
2. Đội cảnh sát thi hành án và hỗ trợ tƣ pháp Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An; - Đội cảnh sát THA&HTTP Công an TX Dĩ An; - Bị cáo Lê Khắc Tuấn; - Lƣu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Hiền |