- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thế M - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thế M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 276A/2017/HSST Ngày: 24-8-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Quỹ
2. Bà Nguyễn Thị Kim Anh
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 280/2017/HSST ngày 04-8-2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2017/QĐ-HSST ngày 11-8-2017, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Thế M - sinh năm 1970;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 150 đường MK, phường VH, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định,
Nơi tạm trú: Số 8/71 đường TB, phường LH, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định;
Dân tộc: Kinh;
Quốc tịch: Việt Nam;
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ văn hóa: Lớp 07/10;
Con ông: Vũ Văn Th - đã chết;
Con bà: Trần Thị H - sinh năm 1928;
Vợ: Nguyễn Thị Hoài B - sinh năm 1972;
Có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2005;
Tiền án; tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 21-12-2010, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07-6-2017, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 16/6/2017 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 06-6-2017, Vũ Thế M đang ở nhà thì Nguyễn Đức Long gọi điện thoại nhờ mua hộ 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng và sẽ trả công 70.000 đồng. M đồng ý và hẹn M ra quán nước khu vực cổng trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công Nghiệp đường Trần Hưng Đạo, phường Bà Triệu, thành phố Nam Định để giao dịch. Sau đó M mượn xe máy biển kiển soát 18Z4-7239 của anh trai là anh Vũ Thế D đi đến điểm hẹn nhận của Long 200.000 đồng và hẹn Long ở đó chờ. M điều khiển xe đi tiếp đến khu vực ngã tư Đệ Tứ, phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng mang về đưa cho Long và nhận 70.000 đồng tiền công như đã thỏa thuận. Khi M vừa nhận tiền của Long thì bị tổ công tác Công an phường Vị Hoàng, thành phố Nam Định phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên tay phải của Long 01 gói bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (M và Long khai là ma túy “đá” M vừa bán cho Long), đã tiến hành niêm phong theo quy định của pháp luật. Đồng thời thu giữ của M 70.000 đồng, 01 điện thoại di động Samsung và xe máy biển kiểm soát 18Z4-7239.
Bản kết luận giám định số 484/GĐKTHS ngày 12-6-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong trưng cầu giám định là chất ma túy, loại chất ma túy là Methamphetamine, trọng lượng (khối lượng) là 0,063gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đức Long đã khai nhận mua ma túy về sử dụng, Vũ Thế M khai nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho Hưng mục đích để kiếm lời.
Bản cáo trạng số 292/QĐ-KSĐT ngày 03-8-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Vũ Thế M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, bị cáo Vũ Thế M khai: Ngày 06-6-2017, do hám lợi nên bị cáo đã mua hộ Nguyễn Đức Long 01 gói ma túy để nhận 70.000 đồng tiền công.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 33 tháng đến 39 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng sung quỹ; áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng đã thu giữ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị miễn hình phạt tiền cho bị cáo vì điều kiện gia đình bị cáo khó khăn không có điều kiện thi hành và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thế M không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Bị cáo đã có hành vi bán 0,063gam Methamphetamine cho Nguyễn Đức Long với mục đích kiếm lời, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã một lần bị kết án đã được xóa án tích nhưng không chịu cải tạo tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Số tiền 70.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có, 01 chiếc điện thoại di động là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tất cả cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Vũ Thế M, cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau; đối với Nguyễn Đức Long có hành vi mua ma túy để sử dụng, chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an thành phố Nam Định đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Chiếc xe máy biển kiểm soát 18Z4-7239 thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Vũ Thế D là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Vũ Thế M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thế M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Vũ Thế M 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 07-6-2017.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 484/GĐKTHS. Tịch thu sung quỹ số tiền 70.000 đồng và 01 điện thoại di động của bị cáo.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03-8-2017)
3. Án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Vũ Thế M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Thế M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Diện |