- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H- Lừa đào Chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------- Bản án số: 275/2022/HSST Ngày: 27/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chu Thị Hà
Ông Phan Trung Hiếu
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà:
Anh Trần Việt Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm
xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 295/TLST-HS ngày 12/12/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2022/QĐXXST-HS ngày 14/12/2022 đối với bị cáo: NGUYỄN THỊ H, sinh ngày 25/02/1991, tại Hà Nội. Nơi ĐKNKTT: 63/305 P, phường P, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Chỗ ở: thôn Thượng Thanh, xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Bá C và bà Nguyễn Thị T; Chồng: Nguyễn Ngọc Hiệp (đã ly hôn), có 04 con. Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ từ ngày 30/9/2022 đến ngày 07/10/2022. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bị hại:
- Anh Nguyễn Đăng C, sinh năm 1989
Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: số 21 tổ 9, phường C, quận Long Biên,
thành phố Hà Nội (vắng mặt)
- Anh Đào Chí C, sinh năm 1970
Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: số 247 B, phường C, quận Hoàn Kiếm,
thành phố Hà Nội (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/11/2018, Anh Nguyễn Đăng C và anh Đào Chí C có đơn trình báo C an phường Chương Dương về việc bị Nguyễn Thị H lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng tháng 9/2018, Nguyễn Thị H thông qua mạng xã hội Beetalk có quen biết anh Nguyễn Đăng C. Qua trao đổi, H biết anh Đăng C đang nợ tiền nhiều nơi và có nhu cầu muốn mở thẻ tín dụng để lấy tiền chi tiêu nên đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Đăng C. H nói dối với anh Nguyễn Đăng C về việc có người nhà làm ở Ngân hàng TMCP Quân đội (MB Bank) và có thể giúp mở thẻ tín dụng với hạn mức là 120 triệu đồng tại Ngân hàng quân đội MB Bank chi nhánh Xã Đàn với chi phí 6 triệu đồng. Tin tưởng H có thể làm được thẻ tín dụng nên anh Đăng C đã giới thiệu anh Đào Chí C cùng làm thẻ với mức chi phí 6 triệu đồng. Ngày 05/11/2018, H gặp anh Đăng C, anh Chí C cùng vợ là chị Tạ Tú Lan tại địa chỉ 247 Bạch Đằng, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội nhận 6 triệu đồng và hồ sơ (gồm 1 bản sao CMND và 1 bản sao sổ hộ khẩu), H cam kết 14 ngày sẽ trả thẻ cho anh Đào Chí C. Ngày 08/11/2018, anh Nguyễn Đăng C tới trước trụ sở MB Bank Xã Đàn, giao cho H 6 triệu đồng cùng 01 bộ hồ sơ mang tên Nguyễn Đăng C và H cũng cam kết 14 ngày sau trả thẻ. H dùng toàn bộ số tiền 12 triệu trên chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 19/11/2018, sau khi tiêu hết 12 triệu không có tiền trả, H biết anh Chí C đang có nợ xấu bên ngân hàng khác, anh Đăng C đã có thẻ ở ngân hàng khác nên H lấy thêm 2 triệu của anh Đăng C và 1 triệu đồng của anh Chí C với lý do phát sinh chi phí. Anh Đăng C nhờ anh Chí C chuyển tiền cho H theo yêu cầu. Anh Chí C giao số tiền 2 triệu đồng cho H tại trước cửa trung tâm thương mại Hàng Da và 01 triệu đồng tại số 2 Lê Thạch. Trong quá trình chờ làm thẻ, ngày 22/11/2018 anh Nguyễn Đăng C nhận được điện thoại từ người xưng là cán bộ ngân hàng gọi để thẩm định (số thuê bao: 0961.471.091). Cũng từ thuê bao này đã nhắn tin vào máy của anh Nguyễn Đăng C với nội dung “HD SO 173498 đã được thông qua và có hiệu lực sau 24h với hạn mức thẻ là 120.000.000 VNĐ. MB Bank trân trọng thông báo” và tin nhắn “mã kích hoạt thẻ của quý khách là 469251”. Chiều ngày 23/11/2018, anh Đăng C nhận được tin nhắn từ thuê bao 0373347863 – tự xưng là bạn của H, với nội dung: “em đã kích hoạt tài khoản cho anh rồi nhưng khác ngân hàng lên chưa nhận được”, nhưng đến chiều khi anh Nguyễn Đăng C gọi vào thuê bao này thì là con trai nghe máy chứ không phải là con gái tên là Thu Vân như H giới thiệu. Do biết bị H lừa đảo chiếm đoạt tiền nên ngày 24/11/2018 anh Đăng C và anh Chí C đưa H đến trụ sở C an phường Chương Dương trình báo.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thị H khai nhận phù hợp với nội dụng vụ án và khai: Do không có C việc và nghề nghiệp ổn định nên đã nảy sinh ý định Lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Nguyễn Đăng C và anh Đào Chí C khi biết các anh có nhu cầu mở thẻ tín dụng. H đã tạo lòng tin với hai anh C bằng cách nói có người nhà làm ở Ngân hàng TMCP Quân đội có thể giúp mở thẻ tín dụng với hạn mức 120.000.000 đồng với chi phí mở thẻ mỗi người là 6.000.000 đồng. Sau khi ăn tiêu hết số tiền 120.000.000 đồng, do không có tiền để trả lại cho hai anh C nên H viện lý do quá trình mở thẻ phát sinh một số vấn đề về chi phí và thời gian và đã yêu cầu anh Chí C đưa số tiền 2 triệu đồng và anh Đăng C đưa số tiền 1 triệu đồng. Sau đó H đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Đến ngày 29/9/2022, H ra đầu thú và khắc phục số tiền 15.000.000 đồng trả cho hai anh C.
Tại cơ quan điều tra anh Nguyễn Đăng C và anh Đào Chí C khai nhận phù hợp với nội dung vụ án và khai: Do tin tưởng việc Nguyễn Thị H nói người nhà làm ở Ngân hàng TMCP Quân đội, có khả năng làm thẻ tín dụng với hạn mức 120.000.000 đồng và cần chi phí làm thẻ là 6.000.000 đồng đồng. Anh Đăng C và anh Chí C đã đưa bộ hồ sơ cùng 2 lần tiền theo yêu cầu của H nhưng H không mở thẻ cho hai anh. Ngày 4/10/2022, anh Đăng C và anh Chí C đã nhận lại tổng số tiền 15.000.000 đồng do gia đình Nguyễn Thị H khắc phục, hai anh không yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với H.
Cáo trạng số 161/CT - VKS ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Nguyễn Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, hiện nay bị cáo đang nuôi con nhỏ, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên cáo trạng truy tố Nguyễn Thị H về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thạch là 20 đến 30 tháng. Vật chứng: không; dân sự: không.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, kết quả phần tranh luận. Trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận về hành vi phạm tội của Nguyễn Thị H tại cơ quan điều tra phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Trong tháng 11/2018, Nguyễn Thị H đã có thủ đoạn gian dối, nói mở được thẻ tín dụng để vay tiền nhằm mục đích chiếm đoạt của anh Nguyễn Đăng C 7.000.000 (bảy triệu) đồng và của anh Đào Chí C 8.000.000 (tám triệu) đồng, tại số 247 Bạch Đằng, phường Chương Dương quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Tổng số tiền H chiếm đoạt là 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất lòng tin trong xã hội và gây bất bình trong nhân dân, bằng thủ đoạn gian dối bị cáo đã chiếm đoạt 7.000.000 (bảy triệu) đồng của anh Nguyễn Đăng C và 8.000.000 (tám triệu) đồng của anh Đào Chí C, nên Hội đồng xét xử phải xử phạt nghiêm minh và áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội. Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, phạm tội nhưng thiệt hại không lớn, bị cáo đầu thú để giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ răn đe và phòng ngừa chung. Xét bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hàng tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hàng tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về dân sự: không giải quyết.
Về vật chứng: không.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, Điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b khoản 4 Điều 1 nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 (sửa đổi bổ sung khoản 5 Điều 3 nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo), Khoản 1 điều 23 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Giao bị cáo về UBND xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.Về trách nhiệm dân sự: không.
3.Về vật chứng: không
4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết C khai.
| Nơi nhận: - Bị cáo, người bị hại. - VKSND quận Hoàn Kiếm + HN - TAND Tp Hà Nội. - C an quận Hoàn Kiếm+ HN. - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm. - Lưu hồ sơ, văn phòng TAND quận Hoàn Kiếm. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Đinh Thị Thu Hường |