- Tranh chấp gì? án hình sự — "Biện Văn Đại L bị viện kiểm sát truy tố về tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Biện Văn Đại L phạm tội Cƣớp giật tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 275/2021/HS-ST Ngày 30-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Tô Văn Nhung;
2. Phạm Tú Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2021 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 216/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 263/2021/QĐXXST-HS ngày 06/9/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 155/2021/HSST-QĐ ngày 14/9/2021 đối với bị cáo:
Biện Văn Đại L, sinh năm 1996; thƣờng trú: ấp H, xã L, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Biện Văn Chung, sinh năm 1975 và bà Lƣu Thị Thủy Ng, sinh năm 1975; bị cáo có 01 em ruột sinh năm 2010; bị cáo có vợ tên Tăng Thị Th, sinh năm 1995 và 01 con sinh năm 2018; tiền án; tiền sự : không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/3/2021, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị hại: Lê Thị Tr, sinh năm 1974; địa chỉ thƣờng trú: Xóm A, xã T, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An; địa chỉ liên hệ: Số B, khu phố B, phƣờng B, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Tăng Thị Th, sinh năm 1995; địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng: Nguyễn Thành D, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 14/3/2021 Biện Văn Đại L, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuky Satria, màu xanh đen biển số 84B1 – 76320, trên đƣờng N2 thuộc khu phố Thống Nhất 1, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, hƣớng ra đƣờng ĐT743B khu phố Thống Nhất 1 (cách nhà hàng Năm Lửa 15 khoảng 100m), L phát hiện một ngƣời đàn ông chạy xe mô tô Grap chở phía sau chị Lê Thị Tr đang nghe điện thoại di động, L điều khiển xe mô chạy lên ép sát bên trái xe mô tô của ngƣời đàn ông chở chị Tr và dùng tay phải nhanh chóng giật chiếc điện thoại hiệu ViVo 1906 trên tay của chị Tr. Giật đƣợc điện thoại, L tăng ga bỏ chạy, trên đƣờng bỏ chạy L bỏ chiếc điện thoại trên đồng hồ xe mô tô của L. Bất ngờ bị giật điện thoại, chị Tr tri hô “Cƣớp cƣớp”, nghe tiếng tri hô anh Nguyễn Thành D, đang điều khiển xe mô tô lƣu thông trên đƣờng tăng ga truy đuổi, khi anh D truy đuổi đến trƣớc số nhà 25/39 khu phố Đông Chiêu, phƣờng Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thì L bị ngã xe xuống đƣờng và bị anh D cùng ngƣời dân bắt giữ ngƣời cùng tang vật giao cho công an phƣờng Dĩ An, lập hồ sơ chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Dĩ An để điều tra xử lý theo thẩm quyền.
Ngoài hành vi giật điện thoại vào ngày 14/3/2021, L còn khai nhận, bằng phƣơng thức thủ đoạn nhƣ trên vào khoảng 10 giờ ngày 13/3/2021, trên đƣờng Trần Hƣng Đạo (gần nhà thờ Dĩ An), phƣờng Dĩ An, L đã giật điện thoại di động hiệu VIVO của một phụ nữ, sau đó đem về phòng trọ, do có mâu thuẫn với vợ nên L đập hƣ hỏng đem bỏ vào thùng rác (Không thu hồi đƣợc).
Theo bản kết luận định giá số 40/KLĐG-HĐĐGTS ngày 19/3/2020, của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xác định tài sản bị chiếm đoạt là điện thoại di động hiệu VIVO 1906 có giá trị 1.500.000đồng.
Vật chứng thu giữ:
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuky Satria F150, màu xanh đen biển số 84B1 – 76320 có số khung MH8DL11AZKJ209168; số máy CGA1ID209151;
+ 01 điện thoại hiệu ViVo 1906.
Tại cáo trạng số 238/CT-VKS ngày 08 tháng 7 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Biện Văn Đại L về tội Cƣớp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Biện Văn Đại L từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
*Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuky Satria F150, màu xanh đen biển số 84B1 – 76320 có số khung MH8DL11AZKJ209168; số máy CGA1ID209151, là phƣơng tiện dùng để phạm tội, tài sản chung của vợ chồng đề nghị tịch thu giá trị ½ chiếc xe (tƣơng đƣơng số tiền 20.000.000đồng).
Đối với 01 điện thoại hiệu ViVo 1906, đã trả lại cho ngƣời bị hại Lê Thị Tr.
Đối với hành vi chiếm đoạt điện thoại di động hiệu VIVO ngày 13/3/2021, trên đƣờng Trần Hƣng Đạo (gần nhà thờ Dĩ An), phƣờng Dĩ An, một phụ nữ (chƣa rõ nhân thân lai lịch), Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại Lê Thị Tr không yêu cầu bồi thƣờng gì nên trách nhiệm dân sự Viện kiểm sát không đặt ra.
Tại phiên tòa vắng mặt bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên không thực hiện phần tranh luận. Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Tăng Thị Th yêu cầu đƣợc nhận lại xe để làm phƣơng tiện đi lại.
Trong đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị hại chị Lê Thị Tr đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt không có lý do, tuy nhiên tài sản của chị Tr là 01 điện thoại di động hiệu ViVo 1906 đã đƣợc trả lại cho chị Tr, tại cơ quan điều tra chị Tr không yêu cầu gì khác. Căn cứ các Điều 290, 292 Bộ luật tố tụng Hình sự Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi bị cáo Biện Văn Đại L công khai sử dụng xe máy áp sát xe mô tô Grap đang chở bị hại và dùng tay phải giật điện thoại hiệu ViVo 1906 có giá trị 1.500.000 trên tay của bị hại rồi nhanh chóng tẩu thoát đã đủ yếu tố cấu thành tội cƣớp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và lời khai của ngƣời làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nhƣ Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, Biên bản xác định địa điểm, Kết luận định giá tài sản 40/KLĐG-HĐĐGTS ngày 19/3/2020 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An. Cáo trạng số 238/CT-VKS ngày 08 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nh một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo 1906 đã đƣợc Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng trả lại cho chị Lê Thị Tr là đúng quy định pháp luật.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuky Satria F150, màu xanh đen biển số 84B1 – 76320 có số khung MH8DL11AZKJ209168; số máy CGA1ID209151, là phƣơng tiện dùng để phạm tội. Đây tài sản chung của vợ chồng bị cáo nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc ½ giá trị chiếc xe, trả lại cho chị Tăng Thị Th ½ giá trị chiếc xe nói trên.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại chị Lê Thị Tr đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Biện Văn Đại L phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Biện Văn Đại L phạm tội Cƣớp giật tài sản.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Biện Văn Đại L 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Suzuky Satria F150, màu xanh đen biển số 84B1–76320 có số khung MH8DL11AZKJ209168; số máy CGA1ID209151. Trả lại cho chị Tăng Thị Th ½ giá trị. Kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 84B1-763.20 tên Biện Văn Đại L.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2021)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Biện Văn Đại L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an thành phố Dĩ An; - Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND nơi bị cáo cƣ trú; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; -VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Thị Kim Hoa |