vanban.org

Bản án 275/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 25/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thiện T cùng đồng phạm phạm tội Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Căn cứ chính? Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 275/2019/HS-PT
Ngày: 25- 10- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Thẩm phán:

Ông Lê Hồng Nước.

Ông Bùi Văn Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh- Thư

T a án nh n d n t nh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 tháng 9 và 07, 21, 25 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở T a án nh n d n t nh Đồng Tháp mở phiên t a xét xử phúc thẩm công hai vụ án hình sự phúc thẩm thụ l số: 176/2019/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2019 ối với ị cáo Trần Thiện T và các ị cáo hác do c háng cáo của các ị cáo ối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18 2019 HS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2019 của T a án nhân dân huyện L, t nh Đồng Tháp.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Thiện T, sinh năm 1978 tại Cần Thơ; nơi ăng hộ khẩu thường trú: Số xxx Đinh Đ, phường x, Quận Tân B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Ấp x, xã Bình Hàng T1, huyện L, t nh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Tài xế; trình ộ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thiện T2, sinh năm 1954 (sống) và bà Lê Thị L1, sinh năm 1953 (sống); có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 30- 9- 2018 ến ngày 09- 10- 2018 thay thế bằng biện pháp cấm i hỏi nơi cư trú; tạm giam: Không (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Phạm Hoàng Q, sinh năm 1983 tại Đồng Tháp; nơi ăng hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ X, ấp Bình H, xã Bình T5, huyện L, t nh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình ộ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T3, sinh năm 1943 (chết) và à Đỗ Thị L2, sinh năm 1949 (sống); chưa c vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 30- 9- 2018 ến 09- 10- 2018 thay thế bằng biện pháp cấm i hỏi nơi cư trú; tạm giam: Không (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

3. Trần Thanh T4, sinh năm 1988 tại Đồng Tháp; nơi ăng hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp Bình H, xã Bình T5, huyện L, t nh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình ộ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M, sinh năm 1960 (sống) và bà Nguyễn Kiều H1, sinh năm 1961 (sống); có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 30-9- 2018 ến ngày 09- 10- 2018 thay thế bằng biện pháp cấm i hỏi nơi cư trú; tạm giam: Không (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

4. Phạm Anh V, sinh năm 1999 tại Đồng Tháp; nơi ăng hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp X, xã Mỹ H2, huyện L, t nh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình ộ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C, sinh năm 1979 (sống) và bà Bùi Ngọc L3 sinh năm 1979 (sống); chưa c vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 30- 9- 2018 ến 09- 10-2018 thay thế bằng biện pháp cấm i hỏi nơi cư trú; tạm giam: Không (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

5. Nguyễn Thị Thanh T6, sinh năm 1989 tại Đồng Tháp; nơi ăng hộ khẩu thường trú: Số XXX Đinh Đ, phường X, Quận Tân B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Ấp X, xã Bình Hàng T1, huyện L, t nh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Nội trợ; trình ộ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T7, sinh năm 1963 (sống) và bà Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1964 (sống); có chồng và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 30- 9-2018 ến 09- 10- 2018 thay thế bằng biện pháp cấm i hỏi nơi cư trú; tạm giam: Không (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

6. Võ Minh T9, sinh năm 1990 tại Đồng Tháp; nơi ăng hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp X, xã Bình Hàng T, huyện L, t nh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Tài xế; trình ộ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Võ Văn Tư N, sinh năm 1965 (sống) và bà Nguyễn Bích T10, sinh năm 1971 (sống); có vợ và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 17- 01- 2018 bị Công an huyện L ra quyết xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.500.000 ồng về hành vi hủy hoại tài sản, nộp phạt ngày 26- 01- 2018; nhân thân: Vào ngày 22- 01- 2010 bị Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội Hiếp dâm, ược ặc xá ngày 31- 8- 2013; tạm giữ, tạm giam: Không. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho các bị cáo Trần Thiện T, Nguyễn Thị Thanh T6:

1. Luật sư Nguyễn Văn Quí- Công ty Luật TNHH Hà Đại Phát thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Luật sư Nguyễn Kim Định- Công ty Luật TNHH một thành viên Đồng Minh thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Kim H3, sinh năm 1956 (có mặt).

Địa ch : Ấp Long Hòa H4, xã Kiến A, huyện M1, t nh An Giang.

- Người làm chứng:

1. Thiệu Thị Y, sinh năm 1975 (có mặt).

Địa ch : Ấp Bình L4, xã Bình T5, huyện L, t nh Đồng Tháp.

2. Nguyễn Văn S, sinh năm 1958 (có mặt).

Địa ch : Ấp Thị X, xã Mỹ L5, huyện M1, t nh An Giang.

3. Lê Thị Trúc H5, sinh năm 1968 (có mặt).

Địa ch : Ấp Hòa H4, xã Kiến A, huyện M1, t nh An Giang.

4. Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Địa ch : Ấp Bình H, xã Bình T5, huyện L, t nh Đồng Tháp.

5. Võ Văn H6, sinh năm 1955 (vắng mặt).

Địa ch : Ấp Bình L4, xã Bình T5, huyện L, t nh Đồng Tháp.

6. Đỗ Văn P, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa ch : Ấp Bình L4, xã Bình T5, huyện L, t nh Đồng Tháp.

7. Lê Duy K, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Địa ch : Ấp Bình L4, xã Bình T5, huyện L, t nh Đồng Tháp.

8. Huỳnh Công D, sinh năm 1998 (vắng mặt).

Địa ch : Ấp Bình H7, xã Bình T5, huyện L, t nh Đồng Tháp.

9. Huỳnh Minh T11, sinh năm 1974 (có mặt).

Địa ch : Đội tổng hợp Công an huyện L, t nh Đồng Tháp.

10. Võ Phước H7, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Địa ch : Đội Cảnh sát thi Hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an huyện lnh, t nh Đồng Tháp.

11. Bùi Ngọc T12 , sinh năm 1980 (có mặt).

Địa ch : Đội Cảnh sát iều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện l, t nh Đồng Tháp.

12. Nguyễn Hồ Vũ Trường G, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Địa ch : Ấp Bình Mỹ B, xã Bình T5, huyện l, t nh Đồng Tháp.

13. Lê Thị Kiều Oanh, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Địa ch : Ấp Bình Mỹ A, xã Bình T5, huyện L, t nh Đồng Tháp.

NỘI DUNG V ÁN:

Th o các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên t a, nội dung vụ án ược t m t t như sau:

Vào hoảng 14 giờ ngày 29- 9- 2018, Trần Thiện T iện thoại cho Võ Minh T9 là tài xế lái x thuê cho T, T kêu T9 chạy x tải loại 07 tấn iển số 51C-409.XX (do cha ruột của T là ông Trần Thiện T2 ứng tên giấy ăng x nhưng giao cho T tạm thời quản l ) ến hu vực c y xăng Tư T13 thuộc ấp X, xã Mỹ L6, huyện L, t nh Đồng Tháp ể gặp 02 người phụ nữ hông xác ịnh tên và ịa ch ể nhận tiền lẻ rồi iều hiển x tải ến Trạm thu phí Cầu N thuộc ấp Bình L4, xã Bình T5, huyện L, t nh Đồng Tháp giả vờ mua vé qua Trạm, nếu người án vé hông c tiền thối lại (trả lại tiền thừa) thì ậu x lại ể g y cản trở giao thông và gây rối trật tự công cộng, T9 ồng .

Đến hoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, sau hi nhận tiền lẻ từ 02 người phụ nữ, T9 chạy x tải ến ậu tại Trạm thu phí N mua vé qua trạm với số tiền 25.000 ồng, T9 ưa cho chị Thiệu Thị Y là nhân viên bán vé của Trạm số tiền 25.100 ồng, gồm: 01 tờ 20.000 ồng, 02 tờ 2000 ồng, 01 tờ 500 ồng và 03 tờ 200 ồng, T9 yêu cầu chị Y thối lại 100 ồng, chị Y hông c 100 ồng ể thối nên ch lấy tiền vé là 20.000 ồng và trả lại T9 5.100 ồng, Y yêu cầu T9 chạy x i nhưng T9 hông chịu nhận tiền lại mà ậu x ấm c i x liên tục g y cản trở giao thông và làm cho nhiều người i ường hiếu ỳ dừng lại la hét g y mất an ninh trật tự. Thấy vậy, ông Nguyễn Văn S là nhân viên thu phí của Trạm ến gặp T9, trả lại cho T9 toàn ộ số tiền và yêu cầu T9 iều hiển x rời hỏi Trạm nhưng T9 vẫn cản trở giao thông, ấm c i x liên tục, ông S iện thoại trình áo Công an xã Bình T5, huyện L ến giải quyết. Khi lực lượng Công an xã Bình T5 ến, Công an yêu cầu T9 iều hiển x rời hỏi Trạm nhưng T9 vẫn ch y ì hông i nhằm mục ích g y rối và g y cản trở giao thông. Lúc này, Trần Thiện T, Nguyễn Thị Thanh T6 (vợ T), Phạm Anh V, Trần Thanh T4 và Phạm Hoàng Q cùng nhiều tài xế và người i ường hác ( hông xác ịnh ược tên và ịa ch cụ thể) ã hòa vào ám ông tham gia la hét lớn tiếng phản ối việc thu phí của Trạm, g y cản trở và g y ách t c giao thông hoảng 30 phút thì lực lượng Công an huyện L ến hỗ trợ can thiệp ảo vệ trật tự công cộng. Lực lượng Công an ã nhiều lần yêu cầu T9 chạy x hỏi trạm nhưng T9 vẫn hông chấp hành mà ấm c i x liên tục ể kích thích cho các ị cáo T, T6, V, T4 và Q cùng nhiều tài xế và người i ường hác ( hông xác ịnh ược tên, ịa ch cụ thể) tập trung tại Trạm la hét lớn tiếng và g y ách t c giao thông nghiêm trọng. Nhận thấy việc làm của T9 g y ảnh hưởng xấu ến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên anh Bùi Ngọc T12 là cán ộ trinh sát Công an huyện L mặc ồ thường phục ã tiếp cận ể ưa T9 ra hỏi x , cùng lúc này T6 hông iết Bùi Ngọc T 12 là Công an ang làm nhiệm vụ nên c lời lẽ thô tục chửi m ng, la lớn tiếng và cầm n n ảo hiểm ánh 3- 4 cái vào người anh T12 làm anh T12 ị thương nhẹ. Bị cáo Trần Thanh T4 dùng lời lẽ chửi thề thô tục thách thức và dùng tay ánh vào người anh Võ Phước H7 là Công an huyện L ang mặc qu n phục nhưng hông g y thương tích cho anh H7. Khi x Cảnh sát 113 của Công an huyện L ưa anh T12 i cấp cứu thì các ị cáo Trần Thiện T, Nguyễn Thị Thanh T6, Phạm Anh V, Phạm Hoàng Q và Trần Thanh T4 cùng nhiều người hác c hành vi la hét lớn tiếng, cản ầu x Cảnh sát 113 không cho chở người i cấp cứu, ị cáo Phạm Anh V còn dùng trống lục lạc ánh tạo ra m thanh lớn ể cổ V ích ộng cho nhiều người tham gia g y rối phản ối Trạm thu phí, ị cáo Phạm Hoàng Q nằm trên ca- ô ầu xe Cảnh sát 113 và dùng 02 tay vỗ vào ầu x phá phách g y tiếng ộng lớn. Các ị cáo trên c hành vi chửi thề, la hét lớn tiếng, ánh và cản trở hông cho x Cảnh sát 113 chở người ị thương i iều trị g y mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội g y ùn t c giao thông nghiêm trọng từ hoảng 19 giờ ến 22 giờ 20 phút cùng ngày thì ị t quả tang.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18 2019 HS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2019 của T a án nh n d n huyện L, t nh Đồng Tháp ã tuyên xử:

Tuyên ố các ị cáo Trần Thiện T, Phạm Hoàng Q, Trần Thanh T4, Phạm Anh V, Nguyễn Thị Thanh T6 và Võ Minh T9 cùng phạm tội “G y rối trật tự công cộng”.

- Áp dụng iểm c, d hoản 2 Điều 318; iểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo Trần Thiện T 03 ( a) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo i chấp hành hình phạt nhưng ược trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30- 9- 2018 ến ngày 09- 10- 2018.

- Áp dụng iểm , c hoản 2 Điều 318; iểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo Phạm Hoàng Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo i chấp hành hình phạt nhưng ược trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30- 9- 2018 ến ngày 09- 10- 2018.

- Áp dụng iểm c, hoản 2 Điều 318; iểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo Trần Thanh T4 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo i chấp hành hình phạt nhưng ược trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30- 9- 2018 ến ngày 09- 10- 2018.

- Áp dụng iểm c hoản 2 Điều 318; iểm s hoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo Phạm Anh V 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo i chấp hành hình phạt nhưng ược trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30- 9- 2018 ến ngày 09- 10- 2018.

- Áp dụng iểm c hoản 2 Điều 318; iểm s hoản 1 và hoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo Nguyễn Thị Thanh T6 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo i chấp hành hình phạt nhưng ược trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30-9- 2018 ến ngày 09- 10- 2018.

- Áp dụng hoản 1 Điều 318; iểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo Võ Minh T9 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo i chấp hành hình phạt.

Ngoài ra, ản án sơ thẩm c n quyết ịnh về xử l vật chứng, án phí và nêu quyền háng cáo th o luật ịnh.

Ngày 18- 6- 2019 ị cáo Phạm Anh V c ơn háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù và xin ược hưởng án tr o.

Ngày 23- 6- 2019 ị cáo Trần Thiện T c ơn háng cáo ề nghị T a án cấp phúc thẩm tuyên hông phạm tội và hủy ản án sơ thẩm.

Ngày 27- 6- 2019 ị cáo Nguyễn Thị Thanh T6 c ơn háng cáo ề nghị T a án cấp phúc thẩm tuyên hông phạm tội và hủy ản án sơ thẩm.

Ngày 27- 6- 2019 ị cáo Võ Minh T9 c ơn háng cáo xin ược giảm nhẹ hình phạt tù và xin ược hưởng án tr o.

Ngày 28- 6- 2019 ị cáo Trần Thanh T4 c ơn háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 28- 6- 2019 ị cáo Phạm Hoàng Q c ơn háng cáo xin ược giảm nhẹ hình phạt tù và xin ược hưởng án tr o.

Tại phiên t a phúc thẩm, các ị cáo Võ Minh T9, Phạm Anh V, Phạm Hoàng Q, Trần Thanh T4 thừa nhận c hành vi dừng x tải, tham gia la hét, cổ V, ứng cản trước ầu x Cảnh sát 113 của Công an huyện L, t nh Đồng Tháp vào hoảng thời gian từ 19 giờ ến 22 giờ 30 phút ngày 29- 9- 2018 tại Trạm thu phí N thuộc ấp Bình L4, xã Bình T5, huyện L, t nh Đồng Tháp làm ách t c giao thông và g y rối trật tự công cộng.

Bị cáo Võ Minh T9 thừa nhận vào hoảng 14 giờ ngày 29- 9- 2018, ị cáo Trần Thiện T iện thoại cho T9 kêu T9 iều hiển x ô tô tải mang iển số 51C-409.20 ến c y xăng Tư T13 tại ấpX2, xã Mỹ L6, huyện L, t nh Đồng Tháp ể nhận tiền lẻ từ 02 người phụ nữ rồi chạy x ến Trạm thu phí N mua vé qua Trạm nhưng hông nhận lại tiền thừa mà ậu x lại tại Trạm ể g y ách t c giao thông, g y ảnh hưởng ến trật tự công cộng và Võ Minh T9 ã làm th o lời của T. Bị cáo Võ Minh T9 thừa nhận ch c T là người iện thoại êu T9 thực hiện hành vi trên chứ hông phải là Nguyễn Hồ V Trường G và hông phải ai hác. Việc T khai T và T9 làm th o lời của Nguyễn Hồ V Trường G là hông úng. T9 còn khai hông iết 02 người phụ nữ giao tiền lẻ cho T9 là ai và T9 xác ịnh Lê Thị Kiều O hông phải là 01 trong 02 người ưa tiền lẻ cho T9. Bị cáo T9 còn thừa nhận tại phiên t a sơ thẩm ã xét xử thì Nguyễn Hồ V Trường G và Lê Thị Kiều O có khai là hông ch ạo cho T, T9 dùng tiền lẻ qua Trạm thu phí N g y rối trật tự công cộng, riêng O hẳng ịnh hông phải là người c mặt tại C y xăng Tư T13 ổi tiền lẻ cho T9. T9 hẳng ịnh Trường G và O hông liên quan ến vụ án.

Tại phiên t a, ị cáo Phạm Anh V thừa nhận c tham gia la hét, ca hát, sử dụng trống lục lạc ập phát ra m tham ể cổ V những người hác g y rối trật tự cộng cộng, cản trở giao thông, V cũng ứng trước ầu x Cảnh sát 113 ể ngăn cản hông cho x di chuyển làm nhiệm vụ. Bị cáo Phạm Hoàng Q thừa nhận la hét lớn tiếng, chửi thề, ứng cản ầu x Cảnh sát 113 và nằm trên n p ca-po, dùng 02 tay vỗ vào n p ca-po x g y ra tiếng ộng ể ích ộng những người hác g y rối trật tự công cộng. Bị cáo Trần Thanh T4 thừa nhận c la hét, chửi và dùng tay ánh vào người anh Võ Phước H7 là Công an ang mặc quân phục làm nhiệm vụ. Các ị cáo Phạm Anh V, Phạm Hoàng Q, Trần Thanh T4 ều thừa nhận nhìn thấy Nguyễn Thị Thanh T6 có ứng cản ầu x Cảnh sát 113, tham gia la hét, g y rối trật tự công cộng, các ị cáo thấy nhiều người la hét, chửi ới thì tham gia la hét, chửi ới chứ hông c ộng cơ, mục ích gì, hành vi của các ị cáo là tự ản th n thực hiện chứ hông ị ai tổ chức, xúi giục và do chiều tối ngày 29- 9- 2018 các ị cáo c uống rượu, ia nên hông iềm chế ược ản th n.

Tại phiên t a, ị cáo Trần Thiện T hai ị cáo c iện thoại kêu T9 ến c y xăng Tư Tông ổi tiền lẻ của 02 người phụ nữ ể ến Trạm thu phí N g y ách t c giao thông là do trước Nguyễn Hồ V Trường G iện thoại cho T yêu cầu cùng g y ách t c giao thông và T êu Trường G gọi cho T9, T gọi lại cho T9 là ể xác nhận xem Trường G c gọi cho T9 chưa. Bị cáo T cho rằng Lê Thị Kiều O là 01 trong 02 người phụ nữ ổi tiền lẻ cho T9 nhưng thực tế T hông thấy O ưa tiền lẻ cho T9 tại c y xăng Tư T13 và cũng hông iết O c phải là người lên x tải của T9 hay không? Tại phiên t a phúc thẩm thì ị cáo T cũng thừa nhận tại phiên t a sơ thẩm Trường G và Kiều O ều khai là hông ch ạo, hông tham gia và hông liên quan gì trong vụ án. Bị cáo Trần Thiện T cho rằng ị cáo hông phạm tội th o iểm c, d hoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự vì ị cáo hông xúi giục T9, mà việc ị cáo làm là do Nguyễn Hồ V Trường G xúi giục, ị cáo hông cản trở giao thông nghiêm trọng do thời gian ị cáo tham gia la hét, phản ối ng n và việc ị cáo phản ối nguyên nh n xuất phát từ việc anh Bùi Ngọc T12 kéo T9 xuống hỏi x tải làm x tải mất lái cán lên nhiều x g n máy, mô tô khác nên ị cáo ức xúc.

Tại phiên t a, ị cáo Nguyễn Thị Thanh T6 hai tối ngày 29- 9- 2018, T6 có ến Trạm thu phí N ể tìm Trần Thiện T và T6 c nhìn thấy x tải do T9 iều hiển ậu g y ách t c giao thông, sau anh Bùi Ngọc T12 leo lên xe tải kéo T9 xuống làm x tải mất lái cán lên nhiều x mô tô, g n máy hác, ị cáo ngửi thấy trên người anh T12 c mùi rượu, ị cáo ức xúc nên c dùng n n ảo hiểm ánh anh T12, khi Công an ưa anh T12 lên x Cảnh sát 113 thì ị cáo c cùng nhiều người ứng cản ầu x Cảnh sát 113 hông cho di chuyển, ị cáo c la hét, phản ối nhưng thời gian tham gia ch hoảng 20 phút, mục ích là yêu cầu ưa anh T12 ra khỏi x ể giải quyết vụ việc. Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T6 cho rằng ị cáo hông phạm tội “G y rối trật tự công cộng”.

Tại phiên t a, người c quyền, nghĩa vụ liên quan là à Nguyễn Kim H3-Giám ốc Công ty cổ phần thu phí cầu ường Đồng Tháp cho rằng Công ty cổ phần thu phí cầu ường Đồng Tháp hợp ồng với Ủy an nh n d n huyện L, t nh Đồng Tháp ể thu phí qua cầu N, hợp ồng ến năm 2025 mới hết hạn, thời iểm các ị cáo g y rối trật tự công cộng, làm ùn t c giao thông ngày 29- 9- 2018 thì hợp ồng thu phí vẫn c n hiệu lực, nhưng do các ngày 25- 9- 2018, 28- 9- 2018 và 29- 9- 2018 c nhiều ối tượng liên tục g y rối, ùn t c giao thông, ảnh hưởng ến hoạt ộng thu phí nên hiện nay Ủy an nh n d n t nh Đồng Tháp ã mua lại Trạm thu phí này. Bà H3 hông yêu cầu các ị cáo phải ồi thường thiệt hại từ việc mất thu nhập do hông thu phí ược ngày 29- 9- 2019. Lời hai của người làm chứng Thiệu Thị Y, Nguyễn Văn S, Lê Thị Trúc H5 là nhân viên thu phí phù hợp với lời hai của ị cáo T9 về việc T9 dùng thủ oạn mua vé ằng tiền lẻ ể cho Trạm thu phí hông c tiền thối lại, ể T9 ỗ x l u tại Trạm làm ách t c giao thông dẫn ến việc nhiều người g y rối trật tự công cộng. Người làm chứng Huỳnh Minh T11 hai ản th n là cán ộ Công an huyện L, t nh Đồng Tháp do hoảng 19 giờ ngày 29- 9- 2018 phát sinh việc hàng trăm người la hét, g y rối trật tự công cộng, làm ách t c giao thông nên anh T11 ược lãnh ạo Công an Huyện phân công dùng xe ặc chủng (x Cảnh sát 113) chở 12 cán ộ, chiến sĩ ến ể thực thi nhiệm vụ giải tán ám ông, hi ến nơi anh T12 thấy c rất nhiều người tụ tập, la hét. Tài xế lái x tải iển số 51C-409.XX i Trạm thu phí thối tiền lẻ, hông xuống x , các cán ộ, chiến sĩ Công an nhiều lần yêu cầu tài xế xuống x nhưng tài xế này hông xuống, nên lực lượng Công an ã hống chế tài xế này. Nhiều ối tượng quá hích ánh anh Bùi Ngọc T12 cán ộ Công an huyện L ị thương, Công an Huyện ưa anh T12 lên x Cảnh sát 113 ể i cấp cứu, x nổ máy, ật c i, èn tín hiệu ưu tiên nhưng c rất nhiều ối tượng lao ến ao v y, la hét, cản ầu x . Anh T11 nhận iết là các ị cáo trong vụ án này. Người làm chứng Bùi Ngọc T12 thì khai ngày 29- 9- 2018 anh là cán ộ Công an huyện L ang trực chiến tại ơn vị nên anh hông c uống rượu, ia, hi ang trực thì nhận ược tin c xảy ra sự việc g y rối trật tự công cộng tại Trạm thu phí N thuộc xã Bình T5, huyện L, do tình thế cấp ách, lãnh ạo Công an huyện L phân công anh và một số trinh sát mặc thường phục xuống hiện trường n m tình hình và giải quyết vụ việc. Do nhiều lần yêu cầu tài xế T9 xuống x tải hông ược, nên anh ược lệnh của lãnh ạo Công an huyện L là phải uộc tài xế T9 rời hỏi x ể iều x i hỏi Trạm thu phí. Anh T12 cho rằng hi x tải ang ở trạng thái dừng, thì anh mở cửa éo tài xế T9 rời hỏi x , trong lúc giằng co thì T9 éo cần số ể x di chuyển trong tình trạng hông người lái hoảng 05 mét va chạm vào nhiều x mô tô, g n máy trước ầu x tải. Anh T12 ị T6 dùng n n ảo hiểm ánh vào ầu, vai, nhiều người v y quanh anh và các trinh sát hác tấn công xô ẩy lực lượng Công an ể giải v y cho T9 thì anh c dùng ình hơi cay xịt ể giải tán ám ông. Anh phải ội n n ảo hiểm ể lên x Cảnh sát 113, khi anh lên xe thì nhiều ối tượng chặn trước ầu x hông cho x di chuyển. Tại phiên t a, ị cáo T9 cho rằng hi ị cáo ang cho x tải di chuyển thì anh T12 éo ị cáo xuống làm x mất lái va chạm vào nhiều mô tô, g n máy. Bị cáo T6 cho rằng anh Bùi Ngọc T12 éo ị cáo T9 ra hỏi x tải hi x ang di chuyển, x c n số nhưng mất lái va chạm vào nhiều x mô tô g n máy nên ị cáo T6 ức xúc, dùng n n ảo hiểm ánh anh T, chặn ầu x Cảnh sát 113, la hét lớn tiếng ch là ể êu anh T xuống hỏi x Cảnh sát 113 giải quyết vụ việc chứ ị cáo T6 hông g y rối trật tự công cộng, ị cáo hông phạm tội, ị cáo T6 yêu cầu anh T phải ồi thường thiệt hại cho ị cáo vì ị cáo ã ồi thường thiệt hại cho các chủ x mô tô, g n máy ị x tải va chạm.

Tại phiên t a, Kiểm sát viên phát iểu quan iểm cho rằng Bản án hình sự sơ thẩm số 18 2019 HS-ST ngày 17- 6- 2019 của T a án nh n d n huyện L, t nh Đồng Tháp ết án các ị cáo về tội “G y rối trật tự công cộng” th o quy ịnh tại Điều 318 Bộ luật hình sự là úng người, úng tội, úng pháp luật. Trong : Bị cáo Trần Thiện T ị xét xử th o các iểm c, d hoản 2 Điều 318, iểm s hoản 1 và hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự với mức án 03 năm tù. Bị cáo Phạm Hoàng Q ị xét xử th o các iểm , c hoản 2 Điều 318, iểm s hoản 1 và hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự với mức án 02 năm 06 tháng tù. Bị cáo Trần Thanh T4 ị xét xử th o các iểm c, hoản 1 Điều 318, iểm s hoản 1 và hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự với mức án 02 năm 06 tháng tù. Bị cáo Phạm Anh V ị xét xử th o iểm c hoản 2 Điều 318, iểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự với mức án 02 năm tù. Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T6 ị xét xử th o iểm c hoản 2 Điều 318, iểm s hoản 1 và hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự với mức án 02 năm tù. Bị cáo Võ Minh T9 ị xét xử th o hoản 1 Điều 318, iểm s hoản 1 và hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự với mức án 09 tháng tù. Sau hi xét xử các ị cáo c háng cáo ều trong hạn luật ịnh. Các ị cáo Phạm Hoàng Q, Trần Thanh T4, Phạm Anh V, Võ Minh T9 ều thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án tr o và c trình ày các l do, cơ sở ể T a án cấp phúc thẩm x m xét giải quyết yêu cầu háng cáo. Tuy nhiên, Kiểm sát viên nhận thấy các l do, cơ sở mà các ị cáo ưa ra ã ược T a án cấp sơ thẩm x m xét, áp dụng, hông phát sinh tình tiết nào mới nên ề nghị Hội ồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết ịnh của ản án sơ thẩm về phần hình phạt của các ị cáo này. Các ị cáo Trần Thiện T, Nguyễn Thị Thanh T6 háng cáo êu oan, yêu cầu hủy ản án sơ thẩm, nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ c trong hồ sơ vụ án và qua xét xử công khai tại phiên tòa phúc thẩm c ủ căn cứ ể hẳng ịnh các ị cáo T, T6 phạm tội “G y rối trật tự công cộng” như Bản án sơ thẩm ã ết án các ị cáo, nên ề nghị Hội ồng xét xử phúc thẩm hông chấp nhận háng cáo, giữ nguyên quyết ịnh của Bản án sơ thẩm ối với các ị cáo T và T6.

Tại phiên t a, Luật sư Nguyễn Văn Quí trình ày lời ào chữa cho rằng ị cáo T hông phải là người xúi giục ị cáo T9 thực hiện hành vi phạm tội, mà người xúi giục ị cáo T9 là Nguyễn Hồ V Trường G nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng chưa là rõ hành vi của G là ỏ lọt tội phạm. Bị cáo T cũng hông phải là người trực tiếp ưa tiền cho T9 mà là người hác nhưng việc này cũng chưa ược iều tra làm rõ. Từ T a án cấp sơ thẩm xác ịnh ị cáo Trần Thiện T phạm tội “G y rối trật tự công cộng” là hông úng. Hành vi của T chưa ủ yếu tố cấu thành tội phạm này.

Mặc dù hi iều tra, truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm, các ị cáo T, T6 chưa c iều iện chứng minh thiệt hại về d n sự là phải ồi thường thiệt hại cho các chủ x mô tô, g n máy do x tải của T, T6 mất lái g y ra. Đến nay các ị cáo ã thực hiện ồi thường, nên phần d n sự phải ược giải quyết chung trong vụ án hình sự này thì mới úng, nếu hông giải quyết chung là vi phạm tố tụng.

Gia ình ị cáo T, ị cáo T6 là gia ình nghèo, tài sản vợ chồng ch c chiếc x tải ể làm ăn. Vì vậy hi ị cáo T6 thấy chiếc x tải va chạm vào x mô tô, g n máy thì T6 n ng ruột là chuyện ình thường, ị cáo T6 hông iết anh T12 là Công an nên mới ánh anh T do ức xúc, ị cáo T6 hông rủ rê các ị cáo hác g y rối, hông làm ùn t c giao thông nên hành vi của T6 hông ủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Hành vi của các ị cáo T6, T chưa ị xử l hành chính, các ị cáo chưa c tiền án, tiền sự nên việc quy chụp các ị cáo phạm tội th o hoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là oan cho các ị cáo; hông c chứng cứ chứng minh anh Bùi Ngọc T12 ược lãnh ạo Công an huyện L ph n công làm nhiệm vụ, tại tờ tường trình của anh T12 trong hồ sơ vụ án và lời hai của anh T12 tại phiên t a phúc thẩm là ược ph n công làm nhiệm vụ ch là việc hai của anh T12 nên việc anh T12 gây thiệt hại là anh T12 c lỗi.

Tại phiên t a, Luật sư Nguyễn Kim Định trình ày lời ào chữa cho rằng hành vi của anh Bùi Ngọc T12 éo ị cáo T9 ra hỏi x hi T9 ang cho x rời hỏi Trạm thu phí là vi phạm pháp luật, hành vi này làm x tải mất lái va chạm g y thiệt hại nhiều x mô tô, g n máy nên ị cáo T6 ức xúc ánh T12 và c cản ầu x Cảnh sát 113 ể yêu cầu ưa T12 ra giải quyết vụ việc. Đ y chính là nguyên nh n uộc ị cáo T6 phải c những hành ộng như vậy nên ị cáo T6 hông c lỗi. Hành vi của ị cáo T6 ch ở mức ộ xử l vi phạm hành chính, hông ủ cơ sở ể xử l hình sự.

Các dữ liệu iện tử c trong hồ sơ vụ án vẫn chưa ược các cơ quan tiến hành tố tụng x m xét ể xác ịnh các ị cáo T, T6 c phạm tội hay hông? Viện iểm sát nhận ịnh các ị cáo ồng phạm giản ơn là chưa úng? Các ị cáo àn ạc, tính toán thực hiện tội phạm hi nào mà n i là ồng phạm?

Các cơ quan tiến hành tố tụng chưa c n nh c việc vợ chồng ị cáo T, T6 có con nhỏ mà phạt tù cả hai là chưa áp dụng chính sách H3n hồng của pháp luật.

Vai tr của Nguyễn Hồ V Trường G và Lê Thị Kiều O rất quan trọng trong vụ án này, quyết ịnh ến cấu thành tội phạm của ị cáo T nhưng vẫn chưa ược các cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ là ỏ lọt tội phạm. Tại sao ị cáo T hai ị Trường G xúi giục thì các cơ quan tiến hành tố tụng lại hông tin vào lời hai của T, nhưng Trường G hai hông xúi giục T thì các cơ quan tiến hành tố tụng lại tin vào lời hai Trường G?

Cơ quan tiến hành tố tụng xác ịnh Bùi Ngọc T12 là người làm chứng nhưng quá trình iều tra ch thu thập lời tường trình của T12 mà chưa lập iên ản lấy lời hai là vi phạm tố tụng.

Trong quá trình iều tra, c cán ộ iều tra mặc thường phục hăm dọa ị cáo T6 nếu thuê Luật sư thì sẽ ị xử từ 03 ến 04 tội vì Luật sư ở Việt Nam chứ hông phải như Luật sư ở trong phim Hồng Kông và nhiều lời hai của ị cáo T6 uộc phải hai th o muốn của cán ộ iều tra, nên c hiện tượng m m cung, dụ cung. Mặt hác, lời hai của ị cáo T9 và Nguyễn Hồ V Trường G không mâu thuẫn nhau nhưng cơ quan iều tra lại cho ối chất là trái với quy ịnh tại Điều 189 Bộ luật tố tụng hình sự, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Luật sư Định yêu cầu triệu tập Nguyễn Hồ V Trường G và Lê Thị Kiều O tại phiên t a phúc thẩm ể làm rõ vụ án. Luật sư Định cho rằng ị cáo T6 không phạm tội, c n ị cáo T hông phạm tội ở iểm c, d hoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự mà ch phạm tội ở hoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phần tranh luận, các ị cáo Trần Thiện T, Nguyễn Thị Thanh T6 thống nhất iến ào chữa của Luật sư. Các ị cáo Võ Minh T9, Phạm Hoàng Q, Trần Thanh T4 hông tham gia tranh luận. Bị cáo Phạm Anh V hi tranh luận trình ày là lúc ị cáo V ị t lên x Công an thì c ngửi thấy trên người anh Bùi Ngọc T12 c mùi rượu, ia. Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T6 tham gia tranh luận xác ịnh lời hai của ị cáo V về việc anh T12 c mùi rượu ia là úng.

Tại lời n i sau cùng, các ị cáo Võ Minh T9, Phạm Hoàng Q, Trần Thanh T4, Phạm Anh V ề nghị Hội ồng xét xử chấp nhận háng cáo của các ị cáo ể các ị cáo c iều iện lo cho gia ình, h a nhập cộng ồng; ị cáo Trần Thiện T êu oan; ị cáo Nguyễn Thị Thanh T6 phát iểu ị cáo hông phạm tội, nếu T a án xử ị cáo c tội thì sau khi ra tù ị cáo sẽ tiếp tục hiếu nại.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án ã ược tranh tụng tại phiên t a, Hội ồng xét xử nhận ịnh như sau:

[1] Xét thấy trong quá trình iều tra, cũng như qua xét xử công khai tại phiên t a sơ thẩm và phiên t a phúc thẩm, ị cáo Võ Minh T9 ều hai nhận vào hoảng 14 giờ ngày 29- 9- 2018, hi ị cáo T9 ang lái x ô tô tải iển số 51C-409.XX từ Thành phố Hồ Chí Minh trở về huyện L, t nh Đồng Tháp thì ị cáo Trần Thiện T iện thoại cho T9 và yêu cầu T9 lái x về c y xăng Tư T13 ở ấp X, xã Mỹ L6, huyện L gặp hai người phụ nữ ể ổi tiền lẻ, rồi sau chạy x ến Trạm thu phí N ở ấp Bình L4, xã Bình T5, huyện L giả vờ mua vé qua Trạm, nếu người án vé hông c tiền lẻ ể thối lại thì ậu x g y cản trở, ách t c giao thông và g y rối trật tự công cộng. Bị cáo Võ Minh T9 hai nhận ị cáo ã thực hiện hành vi trên th o ch ạo của ị cáo Trần Thiện T chứ hông th o ch ạo của ai khác. Bị cáo T9 hai rằng sau hi ị cáo T gọi iện thoại cho T9 thì c số iện thoại lạ iện vào iện thoại của T9 kêu T9 mang x về c y xăng Tư T13, người gọi này là ai T9 hông iết, T9 cũng hông iết c phải là Nguyễn Hồ V Trường G hay hông? C n 02 người phụ nữ ổi tiền lẻ thì T9 cũng hông iết là ai? T9 cũng hông c n nhớ, nhưng T9 hẳng ịnh là hông phải Lê Thị Kiều O. Bị cáo T9 cho rằng Trường G và O hông ch ạo T9 thực hiện hành vi phạm tội mà người ch ạo T9 là ị cáo Trần Thiện T. Bị cáo Trần Thiện T hai nhận c gọi cho T9 nội dung trên nhưng ch làm th o ch ạo, xúi giục của Nguyễn Hồ V Trường G. Tuy nhiên, tại iên ản ghi lời hai Nguyễn Hồ V Trường G ngày 03-4- 2019, iên ản ối chất giữa ị cáo Trần Thiện T với Nguyễn Hồ V Trường G ngày 08- 4- 2019 và lời hai của Nguyễn Hồ V Trường G tại phiên t a sơ thẩm ngày 11- 6- 2019 thì Nguyễn Hồ V Trường G hông thừa nhận ch ạo T cho xe ô tô tải g y ách t c giao thông ở Trạm thu phí N. G hai rằng ngày 29- 9- 2018 có gọi cho T nhưng là gọi ể xin chở hàng của T. Tại phiên t a phúc thẩm, ị cáo Trần Thiện T hai rằng thời iểm

ị cáo T hông c hàng nên việc Trường G n i rằng iện thoại hỏi T xin chở hàng là Trường G hai gian dối. Kết quả iều tra hông thu ược nội dung các cuộc gọi giữa ị cáo Trần Thiện T và Nguyễn Hồ V Trường G. Từ những ph n tích trên, không có cơ sở ể ết luận Nguyễn Hồ V Trường G ch ạo, xúi giục các ị cáo Trần Thiện T, Võ Minh T9 iều x ô tô tải 51C- 409.XX ến Trạm thu phí N ể g y ách t c giao thông và g y rối trật tự công cộng. Xét thấy, việc ị cáo Trần Thiện T cho rằng Nguyễn Hồ V Trường G có hành vi xúi giục g y rối trật tự công cộng nhưng ch c lời hai của T, G không thừa nhận và hông c chứng cứ hác chứng minh nên phải ết luận rằng lời hai nại của ị cáo T là hông c căn cứ. Tuy nhiên, việc ị cáo Trần Thiện T xúi giục ị cáo Võ Minh T9 gây rối trật tự công cộng là c thật, ược chứng minh ằng lời hai của Võ Minh T9, lời hai của chính Trần Thiện T và ược thể hiện ằng việc ị cáo T khai c mặt tại c y xăng Tư T13 trực tiếp chứng iến T9 nhận tiền lẻ từ hai người phụ nữ và T i th o x tải 51C- 409.XX ến Trạm thu phí N ể tham gia g y rối. Hậu quả từ việc ị cáo T xúi giục ị cáo T9 g y rối trật tự công cộng chính là việc giao thông tại Trạm thu phí N ị ách t c éo dài từ hoảng 19 giờ ến hoảng 22 giờ 20 phút ngày 29- 9- 2018, rất nhiều x hông lưu thông qua lại ược trong thời gian dài, nhiều ối tượng lợi dụng việc ẹt x ể la hét, chửi ới, g y rối, cản trở, chống lại hoạt ộng lập lại an ninh trật tự của cơ quan chức năng, nhiều hoạt ộng công cộng ị ảnh hưởng phải dừng lại. Từ , ủ căn cứ ết luận hành vi của ị cáo Trần Thiện T cấu thành tội “G y rối trật tự công cộng” th o quy ịnh tại iểm c, d hoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Việc ị cáo T kháng cáo êu oan, việc Luật sư Nguyễn Văn Quí cho rằng ị cáo T hông phạm tội và việc Luật sư Nguyễn Kim Định cho rằng ị cáo T ch phạm tội th o hoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự là hông c căn cứ chấp nhận. Vì vậy hông chấp nhận háng cáo của ị cáo Trần Thiện T, giữ nguyên quyết ịnh của Bản án sơ thẩm về tội danh, iều hoản áp dụng và hình phạt ối với ị cáo.

[2] Đối với ị cáo Nguyễn Thị Thanh T6 thừa nhận c ứng trước ầu x Cảnh sát 113, c la hét, dùng tay ch vào x nhưng là ể phản ối việc Công an ưa anh Bùi Ngọc T12 lên x mà hông ể anh T12 ở lại giải quyết vụ việc x tải 51C-409.XX mất lái ụng vào nhiều x mô tô, g n máy. Bị cáo T6 cho rằng ức xúc vì x tải của ị cáo g y tai nạn do lỗi của anh T12. Hội ồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, ị cáo T6 c tham gia g y rối trật tự công cộng ằng hành vi ứng cản trở trước ầu x Cảnh sát 113, Công an huyện L, mặc dù x c mở èn, còi tín hiệu ưu tiên, trên x c nhiều cán ộ, chiến sĩ Công an mặc s c phục, ị cáo T6 hoàn toàn nhận thức ược là x Công an ang thi hành công vụ nhưng ị cáo T6 vẫn cùng với các ị cáo Phạm Hoàng Q, Trần Thanh T4, Phạm Anh V la hét, cản trở x Công an di chuyển ể ưa anh Bùi Ngọc T12 ra hỏi ám ông x m xét tình trạng thương tích, ị cáo T6 cũng thừa nhận c hành vi dùng n n ảo hiểm ánh anh T12, hi ánh ị cáo hông iết anh T12 là Công an. Xét thấy, việc ị cáo T6 cho rằng nguyên nh n ị cáo g y rối trật tự công cộng là xuất phát từ lỗi của anh Bùi Ngọc T12 là hông c cơ sở chấp nhận. Bởi vì, hi vụ việc dừng x tải, g y cản trở, ách t c giao thông tại Trạm thu phí N ngày 29- 9- 2018 xảy ra thì lực lượng Công an ã c mặt tại hiện trường, áp dụng nhiều iện pháp ể cả vận ộng, thuyết phục lẫn cưỡng chế nhưng việc g y rối vẫn hông sớm chấm dứt, lẽ ra tại thời iểm này cơ quan chức năng ã c mặt thực thi nhiệm vụ thì những vấn ề phát sinh phải thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan chức năng. Nếu như anh Bùi Ngọc T12 với vai tr là cán ộ Công an ang thi hành công vụ mà c lỗi, g y thiệt hại thì những thiệt hại sẽ ược x m xét, giải quyết th o trình tự, thủ tục pháp luật quy ịnh, ngay thời iểm vụ việc g y rối diễn ra ngày 29- 9- 2018 thì chưa hẳng ịnh ược anh T12 c lỗi hay hông? C g y thiệt hại hay hông? Thiệt hại cho ai? Nhưng ị cáo T6 ã cho rằng ức xúc, uộc giải quyết ngay tại chỗ. Chính hành vi của ị cáo T6 và các ị cáo hác ã g p phần ích ộng ám ông g y rối ngày càng quyết liệt hơn. Do vậy, việc hai nại của ị cáo T6 là hông c cơ sở chấp nhận. Qua sự việc này cần phải hẳng ịnh ch c ch n rằng, Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa mà một trong những ặc trưng của Nhà nước pháp quyền là thượng tôn pháp luật, các ị cáo T6, Q, V, T4 c hành vi g y rối cản trở hoạt ộng của Cơ quan Công an ngày 29- 9- 2018 là c hành vi hông chấp hành nghiêm ch nh pháp luật, nên hành vi này cần phải ược xử l nghiêm minh. Hành vi cản trở ầu x Cảnh sát 113, la hét, phản ối lực lượng Công an của ị cáo T6 ã ích thích nhiều người tham gia g y rối, nhiều người hiếu ỳ ến x m làm ẹt x nghiêm trọng, nhiều ối tượng lợi dụng tình trạng ẹt x ể chửi ới, la hét, tạo hiệu ứng ám ông ể g y cản trở, h hăn cho hoạt ộng của lực lượng Công an, nhiều hoạt ộng công cộng phải ngừng diễn ra. Từ

ủ cơ sở ể ết luận hành vi của ị cáo Nguyễn Thị Thanh T6 cấu thành tội “G y rối trật tự công cộng” th o iểm c khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự, do

háng cáo êu oan của ị cáo T6, lời ào chữa của các Luật sư cho rằng ị cáo T6 hông phạm tội là hông c cơ sở chấp nhận. Do giữ nguyên quyết ịnh của Bản án sơ thẩm về phần này.

[3] Đối với háng cáo của các ị cáo Phạm Hoàng Q, Trần Thanh T4, Phạm Anh V, Võ Minh T9 xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án tr o. Hội ồng xét xử thấy rằng Bản án số 18 2019 HS-ST ngày 17- 6- 2019 của T a án nh n d n huyện L, t nh Đồng Tháp ết án các ị cáo phạm tội “G y rối trật tự công cộng” với Điều, hoản áp dụng là phù hợp với quy ịnh của Bộ luật hình sự. Trong vụ án này các ị cáo ã thành hẩn hai áo, thấy ược lỗi lầm của mình, trong các ị cáo c hoàn cảnh gia ình h hăn, c ị cáo gia ình c công với Nước, y là các tình tiết giảm nhẹ mà th o quy ịnh của pháp luật các ị cáo phải ược x m xét, áp dụng. Xét thấy hi xét xử sơ thẩm, T a án cũng ã x m xét, áp dụng ầy ủ các tình tiết giảm nhẹ cho các ị cáo phù hợp với quy ịnh của pháp luật, tại phiên t a phúc thẩm hông phát sinh tình tiết giảm nhẹ nào hác, ồng thời mức án mà T a án cấp sơ thẩm xét xử các ị cáo là ã úng quy ịnh của Bộ luật hình sự, nh n th n các ị cáo, c xét ến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và phù hợp với tính chất, mức ộ hành vi phạm tội mà các ị cáo g y ra nên hông c căn cứ ể chấp nhận háng cáo của các ị cáo. Vì vậy giữ nguyên ản án sơ thẩm về phần này.

[4] Đối với vai tr của Lê Thị Kiều O, Hội ồng xét xử thấy rằng ị cáo Trần Thiện T hai Lê Thị Kiều O là 01 trong 02 người phụ nữ ưa tiền lẻ cho ị cáo Võ Minh T9, nhưng ị cáo T9 khai O hông phải là người ưa tiền lẻ. Ngoài ra, tại Biên ản ghi lời hai ngày 29- 3- 2019 O hai hông qu n iết ị cáo Võ Minh T9 và ngày 29- 9- 2018 O cũng hông c ến C y xăng Tư T13; tại Biên ản ối chất ngày 11- 4- 2019 giữa ị cáo Trần Thiện T với Lê Thị Kiều O thì O cũng hai ngày 29- 9- 2018 hông c ến c y xăng Tư T13; tại phiên t a sơ thẩm ngày 11- 6- 2019 O cũng hai là hông liên quan ến hành vi của các ị cáo. Từ

ủ cơ sở hẳng ịnh Lê Thị Kiều O hông phải là ồng phạm trong vụ án này.

[5] Đối với thiệt hại phát sinh từ việc x ô tô tải mang iển số 51C- 409.XX va chạm với các x mô tô, g n máy vào êm 29- 9- 2018 trong quá trình iều tra, truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm chưa xác ịnh ược ai c lỗi g y ra thiệt hại, tài liệu chứng cứ chứng minh thiệt hại, giá trị ồi thường và yêu cầu của người ị thiệt hại nên các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chưa ề cập giải quyết, vì vậy T a án cấp phúc thẩm hông x m xét giải quyết, nếu c tranh chấp và c yêu cầu thì sẽ ược x m xét giải quyết ằng vụ án hác. Đối với các dữ liệu iện tử do chưa ảm ảo tính hợp pháp nên chưa ủ iều iện ể trở thành chứng cứ trong vụ án. Đối với việc trong quá trình iều tra, Cơ quan iều tra chưa lấy lời hai Bùi Ngọc T12 là c thiếu s t, tuy nhiên Bùi Ngọc T12 ã c cung cấp ản tường trình diễn iến vụ việc cho Cơ quan iều tra và tại phiên t a phúc thẩm, Hội ồng xét xử, Luật sư, Kiểm sát viên cũng ã xét hỏi ối với Bùi Ngọc T12, vì vậy thiếu s t này hông nghiêm trọng, hông làm thay ổi ản chất vụ án nên hông cần thiết phải hủy ản án sơ thẩm về l do này. Đối với việc ị cáo Nguyễn Thị Thanh T6 khai trong quá trình iều tra ị cán ộ iều tra hăm dọa, m m cung, dụ cung, ép uộc ị cáo phải hai th o quan iểm của cán ộ iều tra ch c lời hai của ị cáo T6, không có chứng cứ nào hác chứng minh nên hông c cơ sở ể hẳng ịnh lời hai của ị cáo T6 là úng. Đối với việc ị cáo T6 hai Bùi Ngọc T12 c mùi rượu ia hi làm nhiệm vụ, xét thấy tại thời iểm xảy ra vụ việc Bùi Ngọc T12 chưa ược giám ịnh nồng ộ cồn nên hông c cơ sở ết luận. Đối với việc lời hai của ị cáo Võ Minh T9 và lời hai của Nguyễn Hồ V Trường G hông m u thuẫn nhưng Cơ quan tiến hành tố tụng cho T9 và G ối chất là chưa úng th o quy ịnh tại Điều 189 Bộ luật tố tụng hình sự, tuy nhiên qua iên ản lấy lời hai của G, qua iên ản ối chất của ị cáo Trần Thiện T và G, lời hai của G tại phiên t a sơ thẩm cũng chưa ủ cơ sở ể xác ịnh G xúi giục T, T9 phạm tội g y rối trật tự công cộng, do sai s t này hông nghiêm trọng, hông làm thay ổi ản chất vụ án nên hông cần thiết phải hủy án sơ thẩm. Trong quá trình iều tra ổ sung ở cấp sơ thẩm và tại phiên t a sơ thẩm thì Nguyễn Hồ V Trường G và Lê Thị Kiều O cũng ã c cung cấp lời hai, tại phiên t a phúc thẩm, T a án ã triệu tập G và O nhiều lần nhưng cả hai hông ến phiên t a, tuy nhiên xét thấy việc v ng mặt của G và O tại phiên t a phúc thẩm cũng hông cản trở cho việc xét xử vụ án.

[6] Xét thấy phát iểu của Kiểm sát viên tại phiên t a là c căn cứ chấp nhận. Phát iểu của người ào chữa tại phiên t a là hông c căn cứ chấp nhận.

[7] Do háng cáo của các ị cáo hông ược chấp nhận nên các ị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[8] Các phần hác của quyết ịnh ản án sơ thẩm hông c háng cáo, háng nghị c hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Căn cứ iểm a hoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận háng cáo của các ị cáo Trần Thiện T, Phạm Hoàng Q, Trần Thanh T4, Phạm Anh V, Nguyễn Thị Thanh T6, Võ Minh T9.

Giữ nguyên quyết ịnh của Bản án hình sự sơ thẩm số 18 2019 HS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2019 của T a án nh n d n huyện L, t nh Đồng Tháp.

Tuyên ố các bị cáo Trần Thiện T, Phạm Hoàng Q, Trần Thanh T4, Phạm Anh V, Nguyễn Thị Thanh T6, Võ Minh T9 phạm tội “G y rối trật tự công cộng”.

Căn cứ iểm c, d hoản 2 Điều 318; iểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo Trần Thiện T 03 ( a) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo i chấp hành hình phạt nhưng ược trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30- 9- 2018 ến ngày 09- 10- 2018.

Căn cứ iểm , c hoản 2 Điều 318; iểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo Phạm Hoàng Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo i chấp hành hình phạt nhưng ược trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30- 9- 2018 ến ngày 09- 10- 2018.

Căn cứ iểm c, hoản 2 Điều 318; iểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo Trần Thanh T4 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo i chấp hành hình phạt nhưng ược trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30- 9- 2018 ến ngày 09- 10- 2018.

Căn cứ iểm c hoản 2 Điều 318; iểm s hoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo Phạm Anh V 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo i chấp hành hình phạt nhưng ược trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30- 9- 2018 ến ngày 09- 10- 2018.

Căn cứ iểm c hoản 2 Điều 318; iểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo Nguyễn Thị Thanh T6 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo i chấp hành hình phạt nhưng ược trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30-9- 2018 ến ngày 09- 10- 2018.

Căn cứ hoản 1 Điều 318; iểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo Võ Minh T9 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo i chấp hành hình phạt.

2. Về án phí: Căn cứ hoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và iểm hoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30- 02- 2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Các ị cáo Trần Thiện T, Phạm Hoàng Q, Trần Thanh T4, Phạm Anh V, Nguyễn Thị Thanh T6, Võ Minh T9 mỗi ị cáo phải chịu 200.000 ồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần hác của quyết ịnh ản án sơ thẩm hông c háng cáo, háng nghị c hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm này c hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ