vanban.org

Bản án 275/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 275/2017/HNGĐ_ST
Ngày: 05/9/2017
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Nhựt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Đông – Cán bộ Thành đoàn thành phố Biên Hòa

2. Bà Nguyễn Thị Nhạn – Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Duẩn – Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 9 năm 2017, tại Hội trường 05 – Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 402/2017/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1968

Địa chỉ: 134/2, Kp.5, P.Tam Hiệp, TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1966

Địa chỉ: 134/2, Kp.5, P.Tam Hiệp, TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

(bà X có đơn xin vắng mặt, ông Y vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị X trình bày: Năm 1989, bà và ông Nguyễn Văn Y tự nguyện kết hôn và đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường Tam Hiệp, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ngày 20/12/1989, UBND phường Tam Hiệp cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 184 cho vợ chồng ông bà. Từ khi kết hôn vợ chồng ông bà thường xuyên cãi nhau nguyên do chính là vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng ngày càng ngột ngạt, mâu thuẫn và không thể kéo dài. Đến nay cuộc sống đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Y.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông Tài có 03 con chung là Nguyễn Duy Khang, sinh năm 1991, Nguyễn Thị Thanh Phương, sinh năm 1993, Nguyễn Phương Quỳnh, sinh ngày 06/01/2007. Khi ly hôn, cháu Khang và cháu Phương đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Quỳnh đề nghị Tòa án giao cho bà được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, bà không yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận; nợ chung của vợ chồng khi ly hôn là không có nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tuy nhiên ông Nguyễn Văn Y không thực hiện các nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự, không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến của ông Y về việc giải quyết vụ án

Theo bản tự khai ngày 24/3/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai cháu Nguyễn Phương Quỳnh, sinh ngày 06/01/2007 có ý kiến hiện nay cháu đang được mẹ ruột là bà Nguyễn Thị X nuôi dưỡng và có nguyện vọng tiếp tục được bà X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:

- Về việc tuân thủ quy định của thẩm phán, thư ký, hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị X khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn Y đối chiếu các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp ly hôn. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà X là nguyên đơn, ông Y là bị đơn trong vụ án.

Ông Y có hộ khẩu thường trú tại phường Tam Hiệp, TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

2. Về thủ tục tố tụng khác: Nguyên đơn bà X có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn Y đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ đến tham dự phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không có lý do; căn cứ khoản 01, điểm b khoản 02 Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

3. Nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Văn Y tự nguyện kết hôn, có làm thủ làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường Tam Hiệp, Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 184 ngày 20/12/1989 nên được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo bà X xác định cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ngay từ khi hai người về chung sống với nhau. Tuy theo kết quả xác minh, địa phương không nắm được mối quan hệ hôn nhân giữa bà X và ông Y như thế nào do không ai trình báo nhưng xét thấy, bà X và ông Y đã kết hôn nhiều năm, hiện các con chung của hai người hầu hết đã trưởng thành nhưng bà X vẫn cương quyết đòi được ly hôn với ông Y. Từ đó cho thấy, cuộc sống hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, các bên cần sự giải thoát không muốn ràng buộc nhau về mặt pháp lý. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Y không đến Tòa án làm việc không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn, cũng như không có ý kiến gì, từ đó cho thấy ông Y có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai người. Do vậy, yêu cầu ly hôn của bà X đối với ông Y là có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống bà X và ông Y có 03 con chung là Nguyễn Duy Khang, sinh năm 1991, Nguyễn Thị Thanh Phương, sinh năm 1993, Nguyễn Phương Quỳnh, sinh ngày 06/01/2007. Đối với cháu Khang và cháu Phương đã trên 18 tuổi, đủ khả năng lao động nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết. Riêng đối với cháu Quỳnh, bà X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quỳnh, không yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con. Yêu cầu này của bà X được Tòa án chấp nhận, do phù hợp nguyện vọng của cháu Quỳnh và từ trước đến nay cháu Quỳnh đều do bà X trực tiếp nuôi dưỡng và cháu Quỳnh vẫn phát triển bình thường.

- Về tài sản chung bà X xác định vợ chồng tự thỏa thuận; nợ chung của vợ chồng khi ly hôn là không có do đó bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị X phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 68, 227, 266 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 56, 71, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị X đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Y về việc tranh chấp ly hôn.

Tuyên xử:

Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1968 ly hôn với ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1966.

Giao con chung là cháu Nguyễn Phương Quỳnh, sinh ngày 06/01/2007cho bà Khanh trực tiếp nuôi dưỡng; ông Y không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Văn Y được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp cần thiết một trong các bên có quyền xin thay đổi quyền trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị X phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 003722 ngày 22/02/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà X đã nộp đủ án phí theo quy định.

Bà X, ông Y được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ