- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hon"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2746/2021/HNGĐ-ST Ngày: 31/12/2021 V/v Tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lượng
2. Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2021 tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 938/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5375/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2726/2021/QĐST- HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1991
Hộ khẩu thường trú: ấp Hòa Thuận, xã Đức Thuận, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Trần Anh Tuấn, sinh năm 1986
Hộ khẩu thường trú: Số 423 Kha Vạn Cân, Tổ 8, Khu phố 8, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Nguyên đơn có yêu cầu vắng mặt, Bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 14 tháng 9 năm 2020 và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ kiện của nguyên đơn Bà Đỗ Thị Thu H trình bày:
Bà Đỗ Thị Thu H và ông Trần Anh Tuấn tự nguyện tìm hiểu, năm 2019 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức Thuận, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về mọi mặt và kinh tế nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, khiến cho cuộc sống trở nên nặng nề. Mâu thuẫn kéo dài, tháng 10 năm 2019 vợ chồng đã ly thân đến nay. Nay vợ chồng không có khả năng hàn gắn đoàn tụ gia đình, không còn tình cảm, không còn gắn bó trách nhiệm với nhau. Nay bà H yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn với ông Trần Anh Tuấn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Hai ông bà có con chung tên Trần Ngọc Anh Thư (nữ), sinh ngày 16/4/2019. Ly hôn Bà Đỗ Thị Thu H yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Bà Hà không yêu cầu ông Trần Anh Tuấn cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa;
[1] Nguyên đơn Bà Đỗ Thị Thu H: Nguyên đơn có yêu cầu vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như nêu trên. Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
[2] Đối với bị đơn ông Trần Anh Tuấn: Quá trình chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử cho đến hôm nay, tòa án đã tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn không đến và không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.
[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thẩm phán, thư ký và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử sơ thẩm nghị án và ý kiến của Viện Kiểm sát về yêu cầu giải quyết vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, thẩm phán, thư ký đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật. Đối với nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và không bổ sung gì thêm. Đối với bị đơn đã được tòa tống đạt hợp lệ nhưng không đến và trong phiên tòa hôm nay bị đơn cũng không có mặt. Do đó đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đại diện Viện Kiểm Sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp giữa Bà Đỗ Thị Thu H và ông Trần Anh Tuấn phát sinh từ quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình và bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên đơn Bà Đỗ Thị Thu H có đơn yêu cầu vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn ông Trần Anh Tuấn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đương sự.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Đỗ Thị Thu H
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Thu H yêu cầu ly hôn với ông Trần Anh Tuấn.
Vấn đề này Hội đồng xét xử (HĐXX) thấy rằng: Quan hệ hôn nhân giữa Bà Đỗ Thị Thu H và ông Trần Anh Tuấn là hợp pháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22/TLKH-BS do Ủy ban nhân dân xã Đức Thuận, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 22/5/2019. Theo bà Hà thì nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà và ông Tuấn bắt đầu từ năm 2019 sau khi sinh con thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống về mọi mặt và kinh tế nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, khiến cho cuộc sống trở nên nặng nề. Mâu thuẫn kéo dài, tháng 10 năm 2019 vợ chồng bà đã ly thân đến nay. Nay vợ chồng không có khả năng hàn gắn đoàn tụ gia đình, không còn tình cảm, không còn gắn bó trách nhiệm với nhau. Bà Hà yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn với ông Trần Anh Tuấn để ổn định cuộc sống.
[2.2 ] Đối với ý kiến của bị đơn ông Trần Anh Tuấn: Bị đơn được tòa triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến gì. Nên Hội đồng xét xử không xem xét gì thêm.
Căn cứ vào hồ sơ đơn kiện, Công văn số 473/VHTT ngày 24/12/2020 của Phòng Văn hóa và Thông Tin. Các tài liệu chứng cứ và Lời trình bày của nguyên đơn tại Bản tự khai. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Hà, ông Tuấn đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, trên thực tế đời sống hôn nhân không còn tồn tại, vợ chồng không còn gắn bó trách nhiệm đối với nhau. Do đó yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Bà Đỗ Thị Thu H là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Căn cứ lời khai của Bà Đỗ Thị Thu H phù hợp với giấy khai sinh số 234 ngày 03/6/2019 của Ủy ban nhân dân phường Linh Đông, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì có đủ căn cứ xác định bà Hà và ông Tuấn có con chung tên Trần Ngọc Anh Thư (nữ), sinh ngày 16/4/2019. Ly hôn bà Hà yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tên Trần Ngọc Anh Thư, vì thực tế bà Hà hiện đang nuôi dưỡng trẻ Trần Ngọc Anh Thư và điều này cũng phù hợp, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
Về yêu cầu cấp dưỡng: Nguyên đơn Bà Đỗ Thị Thu H không yêu cầu ông Trần Anh Tuấn cấp dưỡng nuôi trẻ Trần Ngọc Anh Thư. Đây là sự tự nguyện của bà Hà, sự tự nguyện này không vi phạm pháp luật và đạo đức nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết, nên HĐXX không xét.
Về nợ chung: Không có, nên HĐXX không xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 21; Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Khoản 1 Điều 273; Điều 482 và Điều 483 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
1.1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Thu H được ly hôn ông Trần Anh Tuấn.
1.2/ Về con chung: Có con chung tên Trần Ngọc Anh Thư (nữ), sinh ngày 16/4/2019.
Giao con chung tên Trần Ngọc Anh Thư (nữ), sinh ngày 16/4/2019 cho Bà Đỗ Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Trần Anh Tuấn không cấp dưỡng nuôi con.
Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3/ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.4/ Về nợ chung: Không có.
2/ Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nguyên đơn Bà Đỗ Thị Thu H phải chịu, nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2019/0057774 ngày 29/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014)”.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP.HCM; - VKSND TP. Thủ Đức; - TAND TP.HCM; - Chi cục THADS TP.Thủ Đức; - Cơ quan đã thực hiện việc ĐKKH; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Loan |