- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hon"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2742/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/6/2024 V/v Tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lượng
2. Ông Chu Mạnh Tường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mến, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị T, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2743/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251724/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3571/2024/QĐST- HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Thạch Ngọc M năm 1979
Nơi thường trú: C P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 1 B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có yêu cầu vắng mặt)
Bị đơn: ông Nguyễn Tấn T1 năm 1965
Địa chỉ: B Đường H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 5 năm 2023 và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ kiện của nguyên đơn bà Thạch Ngọc M1 trình bày
Bà Thạch Ngọc M1 và ông Nguyễn Tấn T2 tự nguyện tìm hiểu, năm 2018 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống hạnh phúc một thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về mọi mặt, giữa bà Thạch Ngọc Maiông Nguyễn Tấn T3 ra cãi vã, ông T2 hay nhậu nhẹt, chửi bà M1, không muốn bà giao du với bạn bè, khó khăn về kinh tế, ông T2 không lo cho cuộc sống gia đình, mâu thuẫn kéo dài. Năm 2023 bà M1 nộp đơn khởi kiện ly hôn ông T2 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng bà được Tòa án hòa giải nên bà rút đơn trở về đoàn tụ gia đình, nhưng ông bà không có tiếng nói chung và đã ly thân đến nay, vợ chồng bà không còn quan tâm trách nhiệm gì với nhau, bà M1 không còn tình cảm với ông Nguyễn Tấn T4 bà yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Tấn T2
Về con chung: Hai ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc T5 (nữ), sinh ngày 26/01/2018. Ly hôn bà Thạch Ngọc M1 yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Bà M1 không yêu cầu ông Nguyễn Tấn T6 dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa;
[1] Nguyên đơn bà Thạch Ngọc M1 có yêu cầu vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như nêu trên. Ngoài ra, bà không yêu cầu gì thêm.
[2] Đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn T2: Quá trình chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử cho đến hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không đến Tòa và không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.
[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thẩm phán, thư ký và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử sơ thẩm nghị án và ý kiến của Viện Kiểm sát về yêu cầu giải quyết vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, thẩm phán, thư ký đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật. Đối với nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và không bổ sung gì thêm. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa và trong phiên tòa hôm nay bị đơn cũng không có mặt. Do đó đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đại diện Viện Kiểm S đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định: 2
Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp giữa bà Thạch Ngọc M1 và ông Nguyễn Tấn T2 phát sinh từ quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại địa chỉ trên địa bàn thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên đơn bà Thạch Ngọc M1 có đơn yêu cầu vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn ông Nguyễn Tấn T2 vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: bà Thạch Ngọc M1 yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn T2.
Vấn đề này Hội đồng xét xử (HĐXX) thấy rằng: Quan hệ hôn nhân giữa bà Thạch Ngọc M1 và ông Nguyễn Tấn T2 là hợp pháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 80 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/7/2018. Theo bà M1 thì nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà M1 và ông T2 bắt đầu từ năm 2021 kéo dài đến năm 2023 giữa ông bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về mọi mặt, bà M1 và T2 thường xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn kéo dài, năm 2023 ông bà đã tách ra sống riêng và đã ly thân. Nay ông bà không có khả năng hàn gắn đoàn tụ gia đình, không còn tình cảm, không còn gắn bó trách nhiệm với nhau. Nên bà M1 yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Tấn T2 để ổn định cuộc sống.
Đối với ý kiến của ông Nguyễn Tấn T2: Ông T2 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến gì. Nên Hội đồng xét xử không xem xét gì thêm.
Căn cứ vào hồ sơ đơn kiện, Công văn số 27/UBND ngày 22/01/2024 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận B. Các tài liệu chứng cứ và Bản tự khai. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà M1 và T2 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, trên thực tế đời sống hôn nhân không còn tồn tại, vợ chồng không còn gắn bó trách nhiệm đối với nhau. Do đó yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Thạch Ngọc M1 là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Căn cứ lời khai của nguyên đơn phù hợp với các giấy khai sinh số 259 ngày 06/8/2018 của Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì có đủ căn cứ xác định giữa bà Thạch Ngọc M1 và ông Nguyễn Tấn T2 có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc T5 (nữ), sinh ngày 26/01/2018, khi ly hôn bà M1 yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Xét thấy, từ khi bà M1, ông T2 ly thân đến nay bà M1 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, do về thời gian đưa đón trẻ đi học và việc chăm sóc cho trẻ thuận 3 tiện nên trẻ Nguyễn Ngọc T5 cần sự chăm sóc trực tiếp từ người mẹ, điều này cũng phù hợp, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
Về yêu cầu cấp dưỡng: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con tên Nguyễn Ngọc T5. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, sự tự nguyện này không vi phạm pháp luật và đạo đức và trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ kiện, bị đơn được Tòa triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến gì. Nên Hội đồng xét xử không xem xét gì thêm.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xét.
Về nợ chung: Không có, nên HĐXX không xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 21; Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 186; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Khoản 1 Điều 273; Điều 482 và Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107; Điều 110; Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Ngọc M1 được ly hôn ông Nguyễn Tấn T2.
1.2 Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc T5 (nữ), sinh ngày 26/01/2018.
Giao con chung tên Nguyễn Ngọc T5 (nữ), sinh ngày 26/01/2018 cho bà Thạch Ngọc M1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Nguyễn Tấn T2 không cấp dưỡng nuôi con chung.
Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3 Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4
1.4 Về nợ chung: Không có.
2. Về án phí:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, bà Thạch Ngọc M1 phải chịu, nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2023/0027938 ngày 01/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Tấn T2 không phải nộp án phí.
3. Quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP.HCM; - VKSND TP. Thủ Đức; - TAND TP.HCM; - Chi cục THADS quận Bình Thạnh; Chi cục THADS TP. Thủ Đức - Cơ quan đã thực hiện việc ĐKKH; - Lưu hồ sơ, văn phòng. 5 6 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Loan |