vanban.org

Bản án 274/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị Bảo N.

Chị Ngô Thị Bảo N được ly hôn anh Trần Trọng N1. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 07/2022 ngày 28/01/2022 do Ủy ban nhân dân xã P cấp cho chị N và anh N1 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị Bảo N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 274/2023/HNGĐ-ST
Ngày 23 – 6 – 2023
V/v ly hôn Như – Nhân

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Đình Phùng

Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 6 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 448/2022/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 150/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Bảo N, sinh năm 2002 nơi cư trú: Tổ E, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Trọng N1, sinh năm 2000 nơi cư trú: Tổ G, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo khởi kiện ngày 04/10/2022 và lời khai của nguyên đơn chị Ngô Thị Bảo N trình bày: Chị và anh Trần Trọng N1 qua tìm hiểu đã tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang vào ngày 28 tháng 01 năm 2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 6 năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, do anh N1 ngoại tình, không tập trung làm ăn để lo cho gia đình, ngoài ra chị và anh N1 thường xuyên mâu thuẫn về tiền bạc. Bên cạnh đó anh N1 không quan tâm đến đời sống vợ chồng, dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ tháng 7 năm 2022 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trong, chị xin ly hôn anh N1.

Chị N và anh N1 có 01 con chung Trần Trọng P, sinh ngày 04/10/2020 đang sống cùng chị N. Chị N có nguyện vọng tiếp tục nuôi cháu P và không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị và anh N1 không có tài sản chung, nợ chung

Bị đơn anh Trần Trọng N1 vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt khi hòa giải, xét xử là vi phạm quy định Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu, cho chị Ngô Thị Bảo N được ly hôn anh Trần Trọng N1. Chị N và anh N1 có 01 con chung, giao chị N được tiếp tục nuôi con chung. Chị Như không yêu cầu nên không buộc anh N1 cấp dưỡng nuôi con. Chị và anh N1 không có tài sản chung nợ chung nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

Về nội dung giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Chị N và anh N1 tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 07/2022 do Ủy ban nhân dân xã P cấp ngày 28/01/2022 nên làm phát sinh nghĩa vụ vợ chồng. Chị N cho rằng vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do anh N1 ngoại tình. Bên cạnh đó anh N1 không tập trung làm ăn để lo cho gia đình ngoài ra chị và anh N1 thường xuyên mâu thuẫn về tiền bạc, anh N1 không quan tâm đến đời sống vợ chồng, chị N và anh N1 ly thân từ tháng 7 năm 2022 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên chị N yêu cầu ly hôn anh N1.

Qua xác minh, thì địa phương cho biết: Anh N1 có nơi cư trú tại ấp P, xã P, huyện P, An Giang. Về mâu thuẫn của vợ chồng chị N và anh N1, địa phương không biết.

Chị N và anh N1 là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau cố gắng xây dựng cuộc sống gia đình, nuôi dạy con cái. Chị N và anh N1 xảy ra mâu thuẫn về tình cảm, kinh tế gia đình. Chị N và anh N1 ly thân gần một năm nhưng cả hai không có thiện chí hàn gắn. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cho chị N ly hôn với anh N1.

Về nuôi con chung:

Chị N và anh N1 có 01 con chung Trần Trọng P, sinh ngày 04/10/2020, chị N đang nuôi dưỡng. Từ khi vợ chồng ly thân tháng 7 năm 2022 đến nay chị N là người trực tiếp nuôi con, cháu P chưa được 36 tháng tuổi, rất cần sự chăm sóc của người mẹ, do đó Hội đồng xét xử giao con chung cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Như không yêu cầu nên không buộc anh N1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 322 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị Bảo N.

Chị Ngô Thị Bảo N được ly hôn anh Trần Trọng N1.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 07/2022 ngày 28/01/2022 do Ủy ban nhân dân xã P cấp cho chị N và anh N1 không còn giá trị pháp lý.

Chị N và anh N1 có 01 con chung Trần Trọng P, sinh ngày 04 tháng 10 năm 2020 đang sống với chị N. Giao con chung cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Như không yêu cầu nên không buộc anh N1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị N và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện cho anh N1 đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở anh N1 thực hiện quyền này.

Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.

Chị N và anh N1 không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.

Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005780 ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Chị N không còn phải nộp thêm án phí

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ