vanban.org

Bản án 274/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147,227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, t…

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Hoa K. Chị Huỳnh Thị Hoa K được ly hôn với anh Trần Trọng T Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 29 ngày 25/3/2019 của Ủy ban nhân dân Xã B, Huyện C, Tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Huỳnh Thị Hoa K yêu cầu được ly hôn với anh Trần Trọng T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147,227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, t…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 274/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 31-7-2020
“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1/- Ông Phan Văn Dân

2/- Ông Huỳnh Văn Năng

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành

i di n i n ki m t nh n d n h n h Thành tham gia phiên t a: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành t sơ th m công khai vụ án thụ lý số: 159/2020/TLST–HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra t số 111/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Hoa K, sinh năm 1996 (có mặt).

Cư trú: Tổ A, ấp T xã V, huyện T, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh T rần Trọng T, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Cư trú: Số nhà B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai ngày 27/4/2020 và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hoa K trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh T kết hôn vào năm 2019, hôn nhân do quen biết và tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 25/3/2019 tại UBND ã B, huyện C, tỉnh An Giang Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc trong khoảng thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T ăn chơi không lo làm ăn, không chăm lo vợ con, anh T có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nên hay ảy ra bất hòa, vợ chồng không hạnh phúc, đến tháng 01/2020 chị bồng con về nhà cha mẹ ruột và vợ chồng ly thân cho đến nay Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Ngọc Thiên A, sinh ngày 12/01/2019, hiện cháu đang sống với chị K Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu A, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn anh Trần Trọng T: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án có tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng phía bị đơn đều vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Tại giai đoạn sơ th m những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự và tuân thủ đúng quy định pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng t chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Hoa K, cho chị được ly hôn với anh Trần Trọng T; chị K được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị K phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Trọng T là bị đơn trong vụ kiện đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa t lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành t vắng mặt đối với anh Trần Trọng T.

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Hoa K và anh Trần Trọng T kết hôn vào năm 2019, hôn nhân ây dựng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, đến ngày 25 tháng 3 năm 2019 hai bên có đăng ký kết hôn tại UBND ã B, huyện C, tỉnh An Giang Do vậy, hôn nhân của anh, chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp

X t về mối quan hệ hôn nhân, Hội đồng t nhận thấy: Chị K và anh T chung sống hạnh phúc không lâu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhâu mâu thuẫn theo chị K trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T ăn chơi không lo làm ăn, không chăm lo vợ con, anh T có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nên hay ảy ra bất hòa, vợ chồng không hạnh phúc, đến tháng 01/2020 chị bồng con về nhà cha mẹ ruột và vợ chồng ly thân cho đến nay, tại phiên tòa chị K cương quyết in được ly hôn Về phía anh T qua hai lần mời hòa giải tại tòa anh đều vắng mặt, cán bộ tòa án có đến tận nhà để ghi lời khai nhưng anh T đều không có mặt tại nhà nên cũng không ghi được lời khai. X t thấy, suốt thời gian ly thân hai bên không có thiện chí hàn gắn quan hệ tình cảm, khả năng hàn gắn là không có, hạnh phúc hôn nhân không đạt được Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K là hoàn toàn phù hợp

Về con chung: Chị K và anh T có 1 con chung Trần Ngọc Thiên A sinh ngày 12/01/2019 từ khi ly thân đến nay cháu A sống với chị K, tại phiên tòa chị K in được tiếp tục nuôi con chung X t thấy hiện nay cháu Thiên A còn dưới 36 tháng tuổi, do đó nghĩ nên để chị K được tiếp tục nuôi con chung là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 3 điều 81 của luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung chị K không yêu cầu nên không đặt ra em t

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không đặt ra em t

Về án phí: Căn cứ vào điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án chị Huỳnh Thị Hoa K phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147,227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Hoa K.

Chị Huỳnh Thị Hoa K được ly hôn với anh Trần Trọng T Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 29 ngày 25/3/2019 của Ủy ban nhân dân Xã B, Huyện C, Tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý

- Về con chung: Chị Huỳnh Thị Hoa K được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Trần Ngọc Thiên A sinh ngày 12/01/2019. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Dành quyền tới lui, thăm nom con chung cho anh T, không ai được cản trở

- Về án phí: Chị Huỳnh Thị Hoa K phải chịu 300 000đ án phí hôn nhân gia đình sơ th m được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300 000đ đã nộp tại biên lai thu số 0006902 ngày 18/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

Chị Huỳnh Thị Hoa K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/7/2020). Anh Trần Trọng T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Cỡ chữ