vanban.org

Bản án 274/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Xử: Chấp nhận yêu cầu của Ông Tạ Phú Q. Về hôn nhân: Cho ông Tạ Phú Q ly hôn với bà Nguyễn Thị A. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tạ phú q - nguyễn thị a"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CT
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 274 /2019/HNGĐ-ST
Ngày 03 - 5 - 2019
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CT, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Nhàn;

Các hội thẩm nhân dân:

+ Ông: Nguyễn Văn Y;

+ Bà : Nguyễn Thị Mỹ Lệ;

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Võ Trƣơng Tấn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: không tham gia.

Ngày 03 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện CT mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 808/2018/TLST – HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2018 về việc: “Tranh chấp ly hôn”

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2019/QĐST-HN ngày 05 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Tạ Phú Q, sinh năm 1968; Nơi cư trú: ấp M, xã S, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Nguyễn Thị A, sinh năm 1967; Nơi cư trú: ấp M, xã S, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

( Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa; Bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/12/2018, Tờ tự khai cũng nhƣ trong quá trình giải quyết nguyên đơn Tạ Phú Q trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị A sống chung với nhau từ năm 1989, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện CT vào năm 2002. Từ khi kết hôn, ông bà sống hạnh phúc cho đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình, bà A thích tham gia cờ bạc ông không đồng ý nên ông bà thường xuyên cự cải; Vợ chồng không còn tình cảm, không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau; Gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không hòa thuận được. Bà A bỏ nhà ra ở riêng không còn sống chung với ông từ tháng 10/2018 cho đến nay. Trong thời gian sống chung vợ chồng có 02 con chung tên Tạ Phú T sinh năm 1994; Tạ Thị Mỹ D sinh năm 1991 đã thành niên, có việc làm tự nuôi sống bản thân. Thời gian ly thân đã lâu, ông thấy mâu thuẩn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên ông làm đơn yêu cầu Tòa giải quyết:

- Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị A.

- Về nuôi con chung: các con đã thành niên, không yêu cầu giải quyết;

- Tài sản chung: không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

- Nợ chung: không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án nêu rỏ yêu cầu của nguyên đơn, Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Triệu tập hợp lệ bà Nguyễn Thị A nhiều lần để tham gia hòa giải, tham dự phiên tòa nhưng bà Nguyễn Thị A vắng mặt không có lý do và cũng không có tự khai trình bày ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Ông Tạ Phú Q yêu cầu ly hôn với bàNguyễn Thị A. Hội đồng xét xử (HĐXX) xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn.

[2] Về thủ tục tố tụng: Xét bị đơn Nguyễn Thị A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng. HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 BLTTDS.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy ông Tạ Phú Q và bà Nguyễn Thị A sống chung có đăng ký kết hôn năm 2002 theo đúng quy định Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa ông Q và bà A không còn khả năng đoàn tụ. Bỡi lẽ ông bà chung sống không hạnh phúc, vợ chồng không hợp tính tình, không có tiếng nói chung. Ông Q cho rằng nguyên nhân mâu thuẩn vợ chồng là do bà A tham gia cờ bạc (chơi số đề phá tán tài sản). Gia đình đã động viên, hòa giải để bà sửa chữa để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng bà A không khắc phục được. Ông bà cắt đứt quan hệ vợ chồng đã hơn 06 tháng. Tòa án tổ chức hòa giải để ông bà đoàn tụ nhưng bà A không tham gia hòa giải, không có thiện chí để vợ chồng đoàn tụ. Điều đó chứng tỏ tình cảm giữa ông Q và bà A không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và Gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Tạ Phú Q.

Về nuôi con chung: Ông bà có hai con chung là Tạ Thị Mỹ D và Tạ Phú T đã đủ 18 tuổi và đã có việc làm tự nuôi sống bản thân. Các bên không có yêu cầu xem xét việc nuôi con. HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, HĐXX không xem xét.

Về nợ chung: Các bên đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. HĐXX không xem xét.

Về án phí: Ông Tạ Phú Q phải chịu án phí DSST trong vụ án ly hôn theo quy định khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

Xử: Chấp nhận yêu cầu của Ông Tạ Phú Q.

- Về hôn nhân: Cho ông Tạ Phú Q ly hôn với bà Nguyễn Thị A.

- Về nuôi con chung: không xem xét.

- Tài sản chung: không xem xét.

- Về nợ chung: Không xem xét.

- Về án phí: Ông Tạ Phú Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn. Được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí ông Tạ Phú Q đã nộp theo biên lai thu số 0009132 ngày 14/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CT.

- Về quyền kháng cáo: Ông Tạ Phú Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị A có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ