- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Truong Thi Nhung.Truong Van Thang"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trương Thị Nh được ly hôn với anh Trương Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 274/2018/HNGĐ-ST Ngày: 21/9/2018 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Tú
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Tâm
2. Ông Nguyễn Văn Lợi
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân h Hoằng Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát ND huyện Hoằng Hóa tham gia phiên toà: Không
Ngày 21 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 229/2018/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Nh, sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn 6, xã H. Y, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
2. Bị đơn: Anh Trương Văn Th, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn Bắc Sơn, xã H. Ph, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Nh:
Ông Lê Đình Ch, Luật sư thuộc chi nhánh Công ty Luật TNHH 24H Thanh Hóa
Tại phiên tòa vắng mặt cả hai bên đương sự, chị Nh có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, anh Th vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ; vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Nh là ông Lê Đình Ch (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/7/2018, bản tự khai ngày 12/8/2018 của nguyên đơn chị Trương Thị Nh thể hiện:
Tôi và anh Trương Văn Th tự nguyện kết hôn được Ủy ban nhân dân xã Hoằng Ph, huyện Hoằng Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/7/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tôi thường xuyên va chạm, cãi vã, không cùng quan điểm sống, sống không hạnh phúc nên tôi đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 12/2015 cho đến nay, vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Nay tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể kéo dài cuộc sống vợ chồng thêm được nữa nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Trương Văn Th.
Về con: Vợ chồng tôi có con một con chung là cháu Trương Ngọc T, sinh ngày 22/9/2014. Nay tôi đề nghị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và công nợ: Tôi không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Trương Văn Th không có mặt tại Tòa án để làm việc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Bà Nguyễn Thị H (mẹ anh Th) cung cấp cho Tòa án Giấy ra viện và một số kết quả xét nghiệm của anh Trương Văn Th từ thời điểm tháng 12/2017, chẩn đoán anh bị bệnh Xơ gan - hội chứng Wilson.
Trong bài phát biểu của người bào chữa cho chị Nh là ông Lê Đình Ch thể hiện:
Chị Trương Thị Nh và anh Trương Văn Th tự nguyện kết hôn, được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng thủ tục luật định. Anh chị mâu thuẫn và sống ly thân đã lâu, không quan tâm đến nhau thể hiện tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nh, xử cho chị Nh được ly hôn với anh Th. Về con: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Trương Ngọc T, sinh ngày 22/9/2014, cháu đang còn rất nhỏ, chị Nh mong muốn được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Nh được trực tiếp nuôi con.
Nguyên đơn chị Trương Thị Nh không có sự thay đổi, bổ sung, rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Chị Trương Thị Nh và anh Trương Văn Th tự nguyện kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân xã H Ph, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn tháng 7/2013 theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng anh chị sống với nhau chỉ hòa thuận một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn không thể hòa giải, hàn gắn nổi, đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2015 cho đến nay không quan tâm hay liên lạc gì với nhau, anh Th không đến Tòa án để thể hiện quan điểm muốn đoàn tụ hay không chứng tỏ tình cảm vợ chồng thực sự không còn. Vợ chồng không thể quay về đoàn tụ nên áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Nh là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.
Về con: Vợ chồng anh Th chị Nh có con một con chung là cháu Trương Ngọc T, sinh ngày 22 tháng 9 năm 2014. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng, Hội đồng xét xử nhận thấy cháu Trương Ngọc T còn quá nhỏ, cần có sự chăm sóc của người mẹ nên cần giao cháu cho chị Trương Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tố tụng: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị Trương Thị Nh có đơn đề nghị không hòa giải nên căn cứ Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự không tiến hành hòa giải đối với anh chị. Đối với anh Trương Văn Th dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không có mặt tại Tòa án. Tại phiên tòa ngày 21/8/2018, anh Trương Văn Th vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 233 và 235 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, chị Nh có đơn xét xử vắng mặt, anh Th vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh chị là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Nguyên đơn chị Trương Thị Nh phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 271, điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
Về hôn nhân: Chị Trương Thị Nh được ly hôn với anh Trương Văn Th.
Về con: Công nhận cháu Trương Ngọc T, sinh ngày 22 tháng 9 năm 2014 là con chung của chị Trương Thị Nh và anh Trương Văn Th. Giao cháu Trương Ngọc T cho chị Trương Thị Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về án phí: Nguyên đơn chị Trương Thị Nh phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0002722 ngày 25 tháng 7 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa.
Nguyên đơn chị Trương Thị Nh và bị đơn anh Trương Văn Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND h. Hoằng Hóa; - Chi cục THA DS h. Hoằng Hóa; - UBND xã Hoằng Yến, Hoằng Phụ; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Ngọc Tú |