vanban.org

Bản án 273/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc Tường K. Cho chị Nguyễn Ngọc Tường K được ly hôn anh Nguyễn Thanh S.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Tường M, sinh ngày 20/11/2013 cho anh S nuôi. Chị K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh S không có yêu cầu. Sau khi ly hôn, chị K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc Tường K. Cho chị Nguyễn Ngọc Tường K được ly hôn anh Nguyễn Thanh S.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 273/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/11/2023
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN HOÀNG XUÂN LAM

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông NGUYỄN PHƯỚC TƯỜNG

2. Ông BÙI VĂN MÀU

- Thư ký phiên tòa: Ông CAO TRẦN KHẮC HUY - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Không có.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 606/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị NGUYỄN NGỌC TƯỜNG K, sinh năm 1993

Địa chỉ: ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh NGUYỄN THANH S, sinh năm 1990

Địa chỉ: ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

(Chị K có mặt, anh S vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tờ tự khai cùng ngày 11/9/2023 và lời khai tại Tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Tường K trình bày:

Do quen biết nên chị và anh S xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H. Sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hay tranh cãi, anh S có dấu hiệu ngoại tình, chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được. Anh chị đã ly thân khoảng hơn một tháng nay. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn anh S.

Con chung có một cháu tên Nguyễn Ngọc Tường M, sinh ngày 20/11/2013, hiện đang sống với anh S. Chị đồng ý để anh S nuôi, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.

Theo bản tự khai, bị đơn anh Nguyễn Thanh S trình bày:

Anh S thống nhất với lời trình bày của chị K về quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, anh cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do anh bực bội tiền bạc trong gia đình và anh không đồng ý ly hôn do còn thương vợ.

Con chung có một cháu tên Nguyễn Ngọc Tường M, sinh ngày 20/11/2013 hiện đang sống với anh. Nếu vợ chồng ly hôn thì cháu M muốn sống ai thì người đó nuôi, bên kia không phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung không tranh chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Anh Nguyễn Thanh S vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần hai. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh S.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, cho chị K được ly hôn anh S là có cơ sở. Bởi lẽ, tại phiên tòa, bản thân chị K xác định không còn tình cảm vợ chồng, không muốn đoàn tụ với anh S. Đồng thời, bản thân anh S đưa ra ý kiến không đồng ý ly hôn nhưng anh không có biện pháp, phương án hay hành động gì thuyết phục để vợ chồng hàn gắn cũng như các phiên tòa anh đều vắng mặt không lý do thể hiện thực chất là anh không còn quan tâm gì và bỏ mặt cuộc sống hôn nhân giữa anh với chị K. Từ đó, xác định cuộc sống hôn nhân của anh chị đã thật sự đổ vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Xét thấy, giao cháu Nguyễn Ngọc Tường M, sinh ngày 20/11/2013 cho anh S nuôi là có cơ sở. Bởi lẽ, cháu đã sống ổn định với anh S từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay và chị K cũng đồng ý giao cháu cho anh S nuôi. Từ đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung cũng như tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý, đời sống sinh hoạt, học tập của cháu nên tiếp tục giữ nguyên hiện trạng việc nuôi con chung là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Chị K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 51, 56, 57, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc Tường K. Cho chị Nguyễn Ngọc Tường K được ly hôn anh Nguyễn Thanh S.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Tường M, sinh ngày 20/11/2013 cho anh S nuôi. Chị K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh S không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, chị K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị K phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0013043 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn nêu trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ