vanban.org

Bản án 273/2022/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Anh N, xử cho anh Phạm Anh N và chị Nguyễn Thị L ly hôn.

Về con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị L nuôi con chung tên Phạm Anh P – sinh ngày 03/01/2012 đến 18 tuổi trưởng thành. Chị Nguyễn Thị L không có yêu cầu anh Phạm Anh N cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm ANh N - Nguyễn Thị L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Anh N, xử cho anh Phạm Anh N và chị Nguyễn Thị L ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 273/2022/HNGĐ-ST
Ngày 09/9/2022
Về việc: Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trường.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Nguyễn Thị Liên

+ Bà Trần Thị Xuân Tiên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Lan – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Bà Trương Hồng Bình - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 172/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2022 về việc: “Xin ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/QĐXX-ST ngày 15 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30/8/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phạm Anh N, sinh năm 1987 (Có mặt)

Trú tại: Tổ 18, thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Bị đơn: Nguyễn Thị L – sinh năm 1991. (Vắng mặt không có lý do).

Trú tại: Tổ 18, thôn C, xã , huyện T, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/6/2022, biên bản trình bày cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Phạm Anh N trình bày:

Tôi và chị Nguyễn Thị L tự tìm hiểu và kết hôn năm 2011 có đăng ký tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Trong quá trình chung sống do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống có tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cải vả, xúc phạm nhau. Tôi và chị L sống ly thân đến nay đã được 12 năm không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay tôi thấy tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không đem lại hạnh phúc nên đề nghị tòa xét xử cho tôi và chị Nguyễn Thị L được ly hôn.

Về con chung: Tôi và chị L có 01 con chung tên Phạm Anh P – sinh ngày 03/01/2012 hiện đang sinh sống cùng với chị L. Nguyện vọng giao con cho chị L nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Tôi và chị L tự giải quyết không yêu cầu tòa điều chỉnh.

Về nợ chung: Tôi và chị L không có nợ chung.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị L cố tình trốn tránh, không đến Tòa làm việc. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai của chị Nguyễn Thị L.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư Ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, trình tự thu thập chứng cứ là đúng quy định pháp luật. Đối với bị đơn không tuân thủ các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Anh N.

- Về con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị L nuôi con chung tên Phạm Anh P – sinh ngày 03/01/2012 đến 18 tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị L không có yêu cầu anh Phạm Anh N cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị HĐXX không xét.

Về tài sản chung: Anh Phạm Anh N khai vợ chồng tự giải quyết nên đề nghị HĐXX không xét.

Về nợ chung: Anh Phạm Anh N khai không có nên đề nghị HĐXX không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án có bị đơn chị Nguyễn Thị L cư trú tại huyện T, tỉnh Quảng Nam. Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn chị Nguyễn Thị L mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị L.

Về nội dung vụ án: Anh Phạm Anh N và chị Nguyễn Thị L tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn vào năm 2011 có đăng ký tại UBND xã Bình Trị, huyện Thăng Bình. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh N khai là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên cải vả, xúc phạm nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng cuộc sống vợ chồng anh N, chị L vẫn không thay đổi. Anh N, chị L đã sống ly thân đến nay đã được 12 năm, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay anh N thấy tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên xin ly hôn. Còn về phía chị Nguyễn Thị L không chịu hợp tác làm việc với tòa, cố tình trốn tránh gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Hành vi của chị L thể hiện sự coi thường pháp luật và không có thiện chí trong việc hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Hiện nay, mâu thuẫn vợ chồng anh N, chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc anh N xin ly hôn là có cơ sở, phù hợp với Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

[ 3] Về con chung: Anh N và chị L có 01 con chung tên Phạm Anh P – sinh ngày 03/01/2012, sau khi anh N, chị L ly thân thì cháu P do chị L nuôi dưỡng cho đến nay. Tại phiên Tòa anh N có nguyện vọng để con cho chị L nuôi dưỡng đến 18 tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy, mặt dù chị L không đến Tòa để tham gia giải quyết vụ án nhưng trong quá trình chị L, anh N sống ly thân nhau từ năm 2012 thì cháu Phạm Anh P do chị L nuôi dưỡng, chăm sóc phát triển tốt về mọi mặt, bản thân cháu P có nguyện vọng ở với mẹ. Chị L hiện nay có việc làm và chỗ ở ổn định, kinh tế đảm bảo để nuôi con. Do đó, giao cho chị Nguyễn Thị L nuôi con chung tên Phạm Anh P – sinh ngày 03/01/2012 đến 18 tuổi trưởng thành là phù hợp với Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do Chị Nguyễn Thị L không có yêu cầu anh Phạm Anh N cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh Phạm Anh N khai vợ chồng tự giải quyết nên HĐXX không xét.

Về nợ chung: Anh Phạm Anh N khai không có nên HĐXX không xét.

Về án phí: Xử buộc anh Phạm Anh N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 177, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Anh N, xử cho anh Phạm Anh N và chị Nguyễn Thị L ly hôn.

2. Về con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị L nuôi con chung tên Phạm Anh P – sinh ngày 03/01/2012 đến 18 tuổi trưởng thành.

Chị Nguyễn Thị L không có yêu cầu anh Phạm Anh N cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Anh Phạm Anh N khai vợ chồng tự giải quyết nên HĐXX không xét.

4. Về nợ chung: Anh Phạm Anh N khai không có nên HĐXX không xét.

5. Về án phí: Xử buộc anh Phạm Anh N phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng y) án phí LHST, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng y) mà anh N đã nộp theo biên lai thu số 0005903 ngày 15/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ