vanban.org

Bản án 272/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 28/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Tuyên bố bị cáo Hoàng Mạnh N, Đồng Phương T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Mạnh Nghĩa +đb - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Căn cứ Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 272/2023/HSST
Ngày: 28/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

* Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiểm

* Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phùng Văn Tầu

2. Bà Lê Thị Huyền

* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa - Thư ký Tòa án

* Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân QUẬN H: Bà Lê Thị Thu Huyền - Kiểm sát

viên.

Mở phiên tòa công khai vào hồi 9 giờ 30 phút ngày 28 tháng 9 năm 2023 tại

trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 263/2023/HSST ngày 8/9/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2023/QĐXX- TA ngày 13/9/2023 đối với bị cáo:

1.Hoàng Mạnh N; sinh năm 1992; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

HKTT: Tổ 10, phường Đ, TP H, tỉnh H; Nơi ở hiện nay: số .. Đ , phường P , quận T , TP H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Đảng phái, Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Hoàng Minh N, sinh năm 1963; Mẹ đẻ: Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1968; Vợ: Phan Thị M, sinh năm 1996 và có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2023. Hiện đang bị tạm giam

tại Trại tạm giam số 2- Công an TP. Hà Nội.Có mặt

2. Đồng Phương T; sinh năm 2000; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;

HKTT: Tổ …, phường Đ, TP H, tỉnh H; Nơi ở hiện nay: số .. Đ , phường P , quận T , TP H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Đảng phái, Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Đồng Tiến D, sinh năm 1973; Mẹ đẻ: Phạm Thị V, sinh năm 1974; Chồng, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2023. Hiện đang bị

tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an TP. Hà Nội. Có mặt

*Người bào chữa cho bị cáo N và bị cáo T:

1. Luật sư Lê Nguyên G, sinh năm 1985. Có mặt

2. Luật sư Lê Đăng D, sinh năm 1957. Vắng mặt C:\Users\PCGPT\Desktop\Hoàng Mạnh nghĩa + ĐB. MBMT.docx

3. Luật sư Nguyễn Trọng H, sinh năm 1993. Có mặt

Địa chỉ: Văn phòng luật sư Lê Nguyên Giáp, đoàn luật sư thành phố Hà Nội

 Người có quyền lợi N vụ liên quan

Bà Phạm Thị V, sinh năm: 1974. Có mặt

Trú tại: tổ 6, Đồng Tiến, TP H, tỉnh H

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 15/7/2023, Hoàng Mạnh N (tốt nghiệp trường

Cao đẳng Dược Tuệ Tĩnh, có chứng chỉ điều dưỡng nhưng không được cấp phép kinh doanh dược, không có chứng chỉ hành nghề dược sĩ, bác sĩ) đi bộ từ nhà tại ngõ 120 Định Công, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội đến khu vực đường tàu đầu phố Định Công, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội thì gặp và nói chuyện với một người nữ giới không quen biết khoảng 40 tuổi. Qua nói chuyện, người này giới thiệu với N có Morphine xem ai mua thì bán với giá 65.000 đồng/1 ống. Do N thấy rẻ nên nảy sinh ý định mua Morphine để người nhà hoặc ai có nhu cầu sử dụng thì N bán lại để kiếm lời. N đồng ý mua của người này 26 ống Morphine với giá 1.690.000 đồng. N đưa tiền cho người này. Người này cầm tiền rồi đi đâu N không biết, khoảng 15 phút sau thì quay lại đưa cho N 01 (một) túi bóng màu đen bên trong có 01 hộp giấy ghi tên Morphine chứa 26 (hai mươi sáu) ống thủy tinh, mỗi ống đều chứa chất lỏng là Morphine. N cầm và đi bộ về nhà cất trong phòng ngủ.

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 19/7/2023 khi N đang ở nhà tại ngõ 120 Định

Công, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội thì nhận được điện thoại số 0867283404 của một nam thanh niên không quen biết hỏi mua của N 30 ống Morphine (không có đơn của bác sĩ). N thông báo có 26 ống Morphin,bán với giá 2.700.000 đồng thì được người này đồng ý và hẹn giao ma tuý tại cổng bệnh viện K Tân Triều. Sau đó, N lấy 26 ống Morphine trong phòng ngủ mua từ ngày 15/7/2023 rồi nhờ T cầm túi nilon màu đen đi giao cho khách tại bệnh viên K Tân Triều, T đồng ý. N gửi số điện thoại của khách qua ứng dụng Zalo của T có số 0386834425. T nhận túi nilon màu đen và treo ở móc khung xe phía bên phải thì lúc này N bảo: "Bên trong có Morphine, đi cẩn thận". Sau đó T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, BKS: 28S5-2868 từ Ngõ 120 Định Công, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội đến bệnh viện K Tân Triều. Khi T đang điều khiển xe thì nhận được tin nhắn của N với nội dung "Thu 2700k nhs" (ý bảo T thu của khách 2.700.000 đồng). T điều khiển xe đến nơi thì dừng tại trước cửa số 1A Khu tập thể Khảo sát điện, Tổ 15, phường Kiến Hưng, QUẬN H, TP Hà Nội (đối diện cổng bệnh viện K Tân Triều). T lấy điện thoại gọi đến số 0867283404 của khách, qua điện thoại là giọng của một người nam giới và bảo T đợi anh ta ở phía đối diện cổng bệnh viện K Tân Triều. T vừa tắt máy thì đúng lúc này Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an QUẬN H phối hợp với Công an phường Kiến Hưng kiểm tra phát hiện, bắt quả tang thu giữ tại móc khung xe của T phía bên phải có 01 hộp giấy bên trong chứa 26 (hai mươi sáu) ống thủy tinh, mỗi ống đều chứa chất lỏng bên ngoài gói bằng túi nilon màu đen mà trước đó Hoàng Mạnh N đưa T để giao cho khách. Công an tiến hành lập biên bản niêm phong tại chỗ rồi đưa Đồng Phương T cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở để làm rõ.

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 19/7/2023, Hoàng Mạnh N đã đến Công an

QUẬN H xin đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Vật chứng của vụ đã thu giữ: Thu giữ của Đồng Phương T 26 (hai mươi sáu)

ống thủy tinh đều cao 05 cm, đường kính 01 cm, bên trong các ống đều chứa chất lỏng, trên bề mặt các ống đều in chữ “Morphine”, tất cả các ống được để trong 01 (một) hộp giấy kích thước (09 x 06 x 07) cm, trên bề mặt hộp in chữ “Morphine”, phía ngoài hộp bọc túi nilon màu đen; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda màu xám đỏ đen, BKS: 28S5-2868, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, có lắp sim số 0386834425, đã qua sử dụng. Thu giữ của Hoàng Mạnh N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen bên trong lắp sim số 0889811911, đã qua sử dụng.

Ngày 19/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an QUẬN H đã ra Quyết

định trưng cầu giám định đối với 26 (hai mươi sáu) ống thủy tinh đều cao 05 cm, đường kính 01 cm, bên trong các ống đều chứa chất lỏng, trên bề mặt các ống đều in chữ “Morphine” đã thu giữ nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định số 4967, Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an TP.

Hà Nội kết luận: “26 ống thủy tinh (kích thước mỗi ống cao 05 cm, đường kính 01 cm, trên bề mặt có in chữ Morphin 1ml) bên trong các ống chứa chất lỏng đều có ma túy loại Morphine, tổng thể tích: 26ml”.

Ngày 15/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an QUẬN H đã ra Quyết

định trưng cầu giám định bổ sung hàm lượng chất ma túy đã thu giữ.

Tại bản Kết luận giám định số 6060 ngày 23/8/2023 của Viện khoa học hình

sự - Bộ Công an, kết luận: Nồng độ, khối lượng Morphin trung bình trong mẫu chất lỏng bên trong mỗi ống thuỷ tinh là 8,2mg/ml và 0,0082 gam.

Với hành vi trên, Cáo trạng số 263/CT-VKSHĐ ngày 8 tháng 9 năm 2023 của

Viện kiểm sát nhân dân QUẬN H truy tố Hoàng Mạnh N, Đồng Phương T về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề

nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt

+ Hoàng Mạnh N từ 27 đến 30 tháng tù;

+ Đồng Phương T từ 24 đến 27 tháng tù;

Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối

với bị cáo; về tang vật đề nghị tịch thu, tiêu hủy ma túy đã hoàn trả sau giám định; tịch thu, phát mại, sung quỹ nhà nước hai điện thoại di động thu giữ của N, T; trả bà V 01 xe máy Honda biển kiểm soát 28S5-2868

Người bào chữa cho bị cáo N và bị cáo T đề nghị hội đồng xét xử xem xét

giảm nhẹ cho bị cáo T, N vì bị cáo N tự nguyện ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có nhân thân tốt, mục đích bị cáo bán morphine cho người bệnh ung thư chứ không phải bán cho người nghiện; hành vi của bị cáo N chưa gây thiệt hại gì; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo N hưởng mức hình phạt dưới khung hình phạt. Đối với bị cáo T giúp đỡ bị cáo N bị đau chân, bị cáo là người dân tộc, giúp N không có mục đích vụ lợi; từ trước đến nay bị cáo T phạm tội lần đầu, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án đồng phạm; bị cáo thành khẩn khai báo khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình; bị cáo là người dân tộc Mường nên nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế; bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng vì vậy đề nghị hội đồng xét xử căn cứ điểm I, s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới khung hình phạt;

Bà V đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và

cho bà xin lại chiếc xe máy Honda đỏ đen xám, biển kiểm soát 28S5-2868.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Việc luật sư đề nghị áp dụng điểm I khoản

1 Điều 51 cho bị cáo T và điểm h khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự cho bị cáo N là không có căn cứ. Khi bị cáo N mua ma túy Morphine về nhằm mục đích bán lại kiếm lời là tội phạm đã hoàn thành nên không áp dụng điểm h (phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn) đối với bị cáo N; đối với ý kiến đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 điều 51 cho bị cáo T, đề nghị hội đồng xét xử xem xét vì tội mua bán trái phép chất ma túy là tội phạm nghiêm trọng do vậy mặc dù bị cáo T phạm tội lần đầu nhưng không thể áp dụng điểm i cho bị cáo T. Vì vậy đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn

diện các chứng cứ, ý kiến của bị cáo, kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1} Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng

xét xử thấy quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2} Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn

bộ hành vi vi phạm của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng, tang vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ chứng minh có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 15 giờ ngày 19/7/2023, Hoàng Mạnh N nhờ Đồng Phương T đi giao 26 ống Morphine trên cho một người không quen biết với giá 2.700.000 đồng nhằm mục đích kiếm lời, tại khu vực trước cửa số 1A Khu tập thể Khảo sát điện, Tổ 15, phường Kiến Hưng, QUẬN H, TP Hà Nội. Trong khi Đồng Phương T đang chờ để bán số ma túy trên thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an QUẬN H phối hợp với Công an phường Kiến Hưng kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi nêu trên của Hoàng Mạnh N, Đồng Phương T đã phạm tội “Mua bán

trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm hại đến chính

sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an trên địa bàn QUẬN H.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Vụ án

mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này bị cáo Hoàng Mạnh N là người trực tiếp đi mua ma túy về sau đó liên hệ bán; N bảo T đi giao hàng cho khách theo số điện thoại và tại địa chỉ do N cung cấp. Do vậy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, hội đồng xét xử xét đến thái độ khai báo thành khẩn, sau khi phạm tội bị cáo đã tự giác ra đầu thú khai nhận hành vi vi phạm của mình; bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa tiền án, tiền sự; gia đình bị cáo có ông nội, ông ngoại đều là người có công với cách mạng… Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo N.

Bị cáo Đồng Phương T tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng

phạm. T là người tiếp nhận và thực hiện hành vi phạm tội rất tích cực; Khi N bảo T là Morphin nên phải cẩn thận và nhắn T thu tiền của khách, T đã đồng ý đi đến điểm hẹn. Do vậy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo gây ra. Khi quyết định hình phạt, hội đồng xét xử xét đến thái độ khai báo thành khẩn, bị cáo T phạm tội lần đầu, nhân thân chưa tiền án, tiền sự; bị cáo T là người dân tộc nên nhân thức pháp luật còn nhiều hạn chế; gia đình bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng… Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo N có vai trò cao hơn nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T.

Do các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ

sung phạt tiền đối với các bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy: N khai nhận số ma túy bị bắt giữ là mua của

một người nữ giới không quen biết khoảng 40 tuổi tại khu vực đường tàu đầu phố Định Công, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt giữ. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng ngoài lời khai của Hoàng Mạnh N không có tài liệu chứng cứ nào khác, nên Tòa không xem xét.

Đối với người nam giới sử dụng số điện thoại 0867283404 gọi đến số

điện thoại 0889811911 của Hoàng Mạnh N để hỏi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác định: số điện thoại 0867283404 được đăng ký sở hữu mang tên chủ thuê bao là Quách Thị Tươi, SN 1992, trú tại: xã Đông Tân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Tuy nhiên, Chị Tươi trình bày: Từ trước đến nay, chị Tươi không đăng ký hay sử dụng số điện thoại 0867283404. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

+Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, BKS: 28S5-2868, đã thu

giữ nêu trên là phương tiện T đã sử dụng để đi bán ma túy cho khách. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe là tài sản của bà Bùi Thị Chỉm, (Sinh năm: 1967, HKTT: Nhân N, Lạc Sơn, Hoà Bình). Năm 2018 bà Chỉm đã bán cho bà Phạm Thị V (Sinh năm : 1974, trú tại: tổ 6, Đồng Tiến, TP Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình) là mẹ đẻ của T với giá 12.000.000 đồng. Năm 2019, bà V cho T mượn xe làm phương tiện để đi học. Ngày 19/7/2023, T sử dụng chiếc xe trên đi giao ma tuý Morphine cho N, bà V không biết. Xe không trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Xét chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của bà V, bà V không biết T sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội nên trả lại bà Phạm Thị V 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, BKS: 28S5-2868.

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, có lắp

sim số 0386834425 thu giữ của Đồng Phương T và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen bên trong lắp sim số 0889811911 thu giữ của Hoàng Mạnh N, quá trình điều tra xác định các bị can sử dụng chiếc điện thoại trên liên lạc với khách để giao dịch mua bán ma tuý nên tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước.

+ 01 hộp niêm phong trên các mép dán có hình dấu của Viện khoa học kỹ

thuật hình sự, chữ ký của đồng chí Nguyễn Văn Hiến cán bộ công an QUẬN H và đồng chí nguyễn Thị Thu Loan giám định viên là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo vi phạm pháp luật nên phải nộp án phí theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều

47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

- Căn cứ Điều 106; Điều 331, Điều 333Bộ luật tố tụng hình sự

- Căn cứ Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Mạnh N, Đồng Phương T phạm tội “Mua bán trái

phép chất ma túy”

2. Xử phạt Hoàng Mạnh N 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ

ngày 20/7/2023.

Xử phạt Đồng Phương T 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

20/7/2023.

3.Về tang vật:

+Tịch thu, tiêu hủy 01 hộp niêm phong trên các mép dán có hình dấu của Viện

khoa học kỹ thuật hình sự, chữ ký của đồng chí Nguyễn Văn Hiến cán bộ công an QUẬN H và đồng chí nguyễn Thị Thu Loan giám định viên (theo biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục thi hành án QUẬN H, thành phố Hà Nội)

+ Tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu

Iphone màu xanh, có lắp sim số 0386834425 thu giữ của Đồng Phương T và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen bên trong lắp sim số 0889811911 thu giữ của Hoàng Mạnh N (theo biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục thi hành án QUẬN H, thành phố Hà Nội)

+ Trả lại bà Phạm Thị V 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda màu đỏ xám

đen, BKS: 28S5-2868, số máy 0222398, số khung 116508(theo biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục thi hành án QUẬN H, thành phố Hà Nội).

4. Buộc các bị cáo, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ

thẩm.

5. Các bị cáo, người có quyền lợi N vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

ƠƠ

Cỡ chữ