- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn T & V"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 272/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-6-2023 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Tỏ
2. Bà Lê Thị Ngọc Thúy
Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Lan – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 81/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 187/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Nguyễn Kim T, sinh năm xxxx (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
* Bị đơn: Võ Thanh V, sinh năm: xxxx (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Kim T trình bày:
Chị T và anh V chung sống do quen biết, có tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2007, có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới anh chị sống chung với gia đình chồng khoảng 02 tháng rồi anh chị ra ngoài sinh sống, một thời gian sau đó gia đình chồng cho anh chị một phần đất cất nhà ở riêng, sống riêng một thời gian thì anh chị bán nhà đất về sống chung với gia đình chồng. Quá trình chung sống tương đối hạnh phúc, đến khoảng năm 2021 khi anh V bán nhà đất thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh V bán nhà xong tiền bạc anh V quản lý và cất giữ, rồi anh lấy tiền chơi cờ bạc, đá gà, số đề, rượu bia, gái gú, không cho chị và hai con một khoản tiền nào. Trong khi nghèo khổ thì chị phải nai lưng đi làm kiếm tiền nuôi sống anh và hai con, và phụ thêm chi phí nuôi mẹ chồng, anh V không đi làm công việc gì chỉ ở nhà rông rêu rồi cờ bạc, rượu chè, không phụ chị việc gì, chị đã nhiều lần khuyên nhủ, nhưng anh V vẫn không thay đổi, nhưng chị nghĩ đến hai con còn nhỏ hơn nữa chị cũng lớn tuổi nên cần ổn định cuộc sống, nhưng từ khi anh bán nhà có tiền rồi thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể nào tiếp tục chịu đựng nên chị đã nộp đơn ly hôn nhưng sau đó anh V năn nỉ nên chị rút đơn cho anh thêm cơ hội, nhưng rồi anh vẫn không thay đổi, tình cảm không còn, nay chị quyết định ly hôn mà không còn thấy hối tiếc.
Về con chung: Có 02 con tên Võ Nguyễn Anh T1, sinh ngày xx/x/xxxx và Võ Nguyễn Kim T2, sinh ngày xx/x/xxxx, hiện hai con đang sống chung với chị. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có
* Anh Võ Thanh V là bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, anh V cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của anh V đối với yêu cầu ly hôn của chị T cho Tòa án nên không có lời trình bày của anh V.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Kim T, cho chị T được ly hôn với anh V. Về con chung: Giao 02 con chung tên Võ Nguyễn Anh T1, sinh ngày xx/x/xxxx và Võ Nguyễn Kim T2, sinh ngày xx/x/xxxx cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng, anh V không cấp dưỡng do chị T không có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Kim T yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Võ Thanh V, sinh năm 1981, ngụ tại ấp H, xã T, huyện G nên đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Bị đơn anh Võ Thanh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng anh V vẫn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng và cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến của anh V đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Võ Thanh V.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Kim T và anh Võ Thanh V có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét yêu cầu ly hôn của chị T, căn cứ vào lời khai của chị, Hội đồng xét xử nhận thấy, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh V bán nhà xong tiền bạc anh V quản lý và cất giữ, rồi anh lấy tiền chơi cờ bạc đá gà, số đề, rượu bia, gái gú, không cho chị và hai con một khoảng tiền nào. Trong khi nghèo khổ thì chị phải nai lưng đi làm kiếm tiền nuôi sống anh và hai con, và phụ thêm chi phí nuôi mẹ chồng, anh V không đi làm công việc gì chỉ ở nhà rông rêu rồi cờ bạc, rượu chè, không phụ chị việc gì, chị đã nhiều lần khuyên nhủ, nhưng anh V vẫn không thay đổi, nhưng chị nghĩ đến hai con còn nhỏ hơn nữa chị cũng lớn tuổi nên cần ổn định cuộc sống, nhưng từ khi anh bán nhà có tiền rồi thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể nào tiếp tục chịu đựng nên chị đã nộp đơn ly hôn nhưng sau đó anh V năn nỉ nên chị rút đơn cho anh thêm cơ hội, nhưng rồi anh vẫn không thay đổi, tình cảm không còn. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo cho anh V biết nội dung yêu cầu ly hôn của chị T, tuy nhiên anh V vẫn không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị T, để mặc cho chị với yêu cầu ly hôn mà vắng mặc trong suốt quá trình tố tụng, anh V không quan tâm đến kết quả giải quyết đối với quan hệ hôn nhân của anh và chị T. Từ những tình tiết nêu trên, cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T với anh V là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh chị chung sống có 02 con tên Võ Nguyễn Anh T1, sinh ngày xx/x/xxxx và Võ Nguyễn Kim T2, sinh ngày xx/x/xxxx, hiện đang sống chung với chị T. Ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Theo nguyện vọng của 02 con đều có mong muốn được sống chung với mẹ, nhằm tránh sự xáo trộn trong cuộc sống của con chung, hơn nữa cả 02 con chung đều là con gái rất cần có sự chăm sóc của người mẹ trong sự phát triển bình thường của người phụ nữ nên cần giao cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là có cơ sở được chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Do chị T được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và chị không có yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Kim T có yêu cầu ly hôn nên chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Kim T và anh Võ Thanh V được ly hôn.
2. Về con chung: Giao 02 con tên Võ Nguyễn Anh T1, sinh ngày xx/x/xxxx và Võ Nguyễn Kim T2, sinh ngày xx/x/xxxx cho chị Nguyễn Kim T được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Võ Thanh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không có yêu cầu.
Anh Võ Thanh V được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0028559 ngày 06/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị Nguyễn Kim T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án và anh V được quyền kháng cáo bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H.GCĐ; - CC.THADS H.GCĐ; - UBND xã Tân Tây, H.GCĐ; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Diễm Trinh |