- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn Đ - giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn Đ, sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 93 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 271/2026/HS-PT Ngày 21-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: 1/ Bà Trần Thị Thúy Hồng
2/ Ông Trần Ngọc Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Yến Xuân, Thư ký Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Lê Tấn Cường, Kiểm sát viên cao cấp Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm VKSNDTC tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 21/4/2026 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 83/2026/TLPT-HS ngày 10/02/2026. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn Đ, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2026/HS-ST ngày 14/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 11 tháng 4 năm 1991, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay ấp T, phường B, tỉnh Tây Ninh); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1969; vợ tên Lý Thảo N, sinh năm 1997 (đã ly hôn); có 01 người con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/02/2025 (Có mặt)
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22 ngày 01/8/2014 của Công an thành phố T đã xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Trịnh Đình V, Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt)
Trong vụ án này còn có bị cáo Nguyễn Ngọc H và bị cáo Nguyễn Quốc V1, không có kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 09-5-2014, bị hại Phạm Nguyễn Dư A rủ Võ Hoàng Phương N1 đi trộm vịt tại khu vực kênh K trên đường D thuộc khu phố N, phường N, thành phố T (nay là khu phố N, phường B, tỉnh Tây Ninh) thì N1 đồng ý. Sau khi bắt được vịt, A điều khiển xe chở N1 về thì bị Huỳnh Công B và Trần Ngọc C phát hiện truy đuổi. Trên đường bỏ chạy, xe bị hư nên A liên lạc nhóm bạn gồm Nguyễn Trường K, Bùi Quốc D, Nguyễn Hoàng Nhất N2, Hồ Minh N3, Lê Hoàng P1, Trần Hoàng V2, Võ Hoàng Phương N1 và Lê Chí T1 đến rước rồi tìm B, C đánh thì cả nhóm đồng ý.
Lúc này khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09-5-2014, ông Mai Chí H1 rủ bị cáo Nguyễn Tấn Đ đến quán T5 tại ấp T, xã T, thành phố T để nhậu cùng nhóm bạn Lê Hữu L, Phạm Hoàng D1, Mai Hữu N4 và Huỳnh Ngọc T2 (hiện đã chết). Đến 00 giờ 20 phút ngày 10-5-2014, nhóm của bị cáo Đ ra về, khi đến khu vực ngã 3 Cầu G thuộc khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố N, phường B, tỉnh Tây Ninh), cả nhóm dừng lại đi vệ sinh, D1 và N4 đi trước. Lúc này, nhóm của A thấy nhóm của bị cáo Đ, nghĩ là những người đã truy đuổi A, nên bao vây đánh nhóm bị cáo Đ, sau đó nhận ra đánh nhầm nên tất cả bỏ ra về, nhóm của bị cáo Đ không ai bị thương tích. Khi về, A nhặt 01 cục gạch ống bên đường mang theo đến đoạn gần khu vực Trường D2 thấy nhóm thanh niên đang đứng bên đường, nghĩ là nhóm Huỳnh Công B và Trần Ngọc C nên quay trở lại về hướng ngã tư T để đi về.
Về phía bị cáo Đ, sau khi bị đánh, bị cáo Đ cùng H1 đến quán “7 P" thuộc khu phố N, phường N, thành phố T gặp bị cáo Nguyễn Quốc V1, bị cáo Nguyễn Ngọc H, Lê Hữu Q, Phan Thanh C1, Nguyễn Đặng Linh T3, Đ kể về việc bị đánh thì bị cáo Nguyễn Quốc V1 nói “Vậy thì tụi mình đuổi theo đánh lại”. Bị cáo V1 đi vào bếp của quán lấy 02 con dao thì được ông Mai Chí H1 và chủ quán can ngăn, lấy lại dao. Cùng lúc này Mai Hữu N4 đi bộ đến nói với Lê Hữu Q “mày lấy xe chở anh chạy theo mấy thằng đó coi mấy thằng đó là thằng nào” thì Lê Hữu Q đồng ý. Q điều khiển xe mô tô chở theo Mai Hữu N4 về hướng cầu T đuổi theo nhóm của A, thấy vậy bị cáo Nguyễn Quốc V1 điều khiển xe mô tô chạy theo phía sau Q và N4. Sau khi cả 03 điều khiển xe mô tô đuổi theo nhóm của A thì Lê Hữu L, Phạm Hoàng D1 lần lượt đến quán nhậu “7 P2” cả nhóm tiếp tục nhậu.
Riêng N4 và Q đuổi theo được khoảng 2,5km, thấy có nhiều xe mô tô đang đi ngược lại, sợ bị đánh nên cả hai rẽ vào hẻm gần đó để nấp, riêng bị cáo V1 chạy xe về quán 7 P2 và hô to “Tụi nó kéo lên kìa”. Sau khi nói xong, bị cáo V1 chạy vào bên trong quán lấy 04 chai thủy tinh, loại chai nước ngọt Pepsi (vẫn còn nước trong chai), bị cáo Đ lấy 01 khúc gỗ (loại gỗ cao su dạng hình trụ, dài 60cm, đường kính 08cm, cân nặng 192gram), bị cáo H lấy 01 khúc gỗ cao su (loại khúc gỗ cây cao su dạng hình trụ, dài 76cm, đường kính 08cm, cân nặng 192gram). Chuẩn bị xong hung khí, bị cáo Đ, H, V1 chạy ra ngoài quán nhậu “7 P2” chờ nhóm A đến. Riêng ông Mai Chí H1, Phan Thanh C1, Nguyễn Đặng Linh T3, Phạm Hoàng D1, Huỳnh Ngọc T2, Phạm Phương T4 đứng bên trong quán không tham gia. Lúc này khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10-5-2014, nhóm của A chạy xe đến với tốc độ khoảng 60km/h, đi đầu là xe mô tô do Trần Hoàng V2 điều khiển, xe thứ 2 là xe mô tô do K điều khiển chở A, xe thứ 3 là xe mô tô do N3 điều khiển chở P1 và cuối cùng là xe mô tô do Phương N1 điều khiển chở T1.
Khi thấy nhóm A đến, bị cáo Đ chạy ra trước đường nhựa để đánh, xe của V2 và xe của K đi đầu chạy vượt qua bị cáo Đ, khi thấy xe thứ 3 do N3 điều khiển chở P1 chạy đến, bị cáo Đ dùng hai tay cầm đoạn gỗ đánh trúng vào cánh tay phải của bị hại N3 rồi quay mặt về hướng cầu T quan sát xe. K chở bị hại A chạy đến, bị cáo H dùng 02 tay cầm khúc gỗ cao su đánh mạnh từ phải qua trái theo hướng ngang, K né xuống nên trúng vào đầu A làm A ngã xuống đường, K tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy thoát. V1 ném 04 chai nước ngọt về hướng nhóm A nhưng không trúng ai.
Sau khi thấy bị hại A nằm bất tĩnh, nghĩ A đã chết nên cả nhóm bỏ về nhà. A được người dân đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh T cấp cứu sau đó chuyển đến Bệnh viện C2, Thành phố Hồ Chí Minh chữa trị đến ngày 16-5-2014 xuất viện và điều trị tại các bệnh viện khác. Bị hại N3 được đưa đến Bệnh viện C3 để chữa trị đến 12-05-2014 xuất viện.
Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 105/TgT ngày 02-10-2014 của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với Phạm Nguyễn Dư A đã kết luận như sau: Căn cứ theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014, tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Nguyễn Dư A, sinh năm 1995 do thương tích gây nên hiện tại là: 82%.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 32/KLTTCT-GĐYKPY ngày 21/5/2025 của Trung tâm giám định y khoa – pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh T đối với Hồ Minh N3 đã kết luận như sau: Căn cứ Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12-6-2014 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hồ Minh N3 tại thời điểm giám định là 18%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Tại Bản Cáo trạng số: 03/CT-VKSTN-P2 ngày 17/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, có nội dung:
Truy tố các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Nguyễn Ngọc H, Nguyễn Quốc V1 về tội “Giết người” theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 của Bộ Luật Hình sự.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 03/2026/HS-ST ngày 14/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, đã tuyên xử:
Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ 14 năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/2/2025.
Ngoài ra, còn xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 12 năm tù, Nguyễn Quốc V1 11 năm tù theo điểm a, n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 đều về tội “Giết người”.
Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về tang vật, án phí, trách nhiệm bồi thường dân sự và án phí theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/01/2026 bị cáo Nguyễn Tấn Đ, làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm quá nặng, xin xem xét giảm án vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Đ trình bày, bị cáo ăn năng hối hận, thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày, bị cáo phạm tội khi thiếu hiểu biết pháp luật, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn nhưng sau khi xử sơ thẩm gia đình bị cáo bồi thường cho gia định bị hại số tiền 30.000.000 đồng, đây là tình tiết mới, đề nghị Hội đồng xét xử giảm án cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát cấp phúc thẩm cho rằng, hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, hung hăng, quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng, gây hậu quả chết người. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo với mức nêu trên là phù hợp, với số tiền bồi thường trên vẫn chưa đủ vào đâu so với thiệt hại của gia đình bị hại, nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, nghe bị cáo trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát và luật sư phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn Đ làm trong hạn luật định nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:
Chỉ vì bị nhóm của A đánh nhầm, bị cáo Đ đã nảy sinh ý định trả thù, bị cáo cùng với Nguyễn Ngọc H, Nguyễn Quốc V1 thống nhất để đi tìm đánh lại đối với nhóm của A.
Trong quá trình xảy ra việc xô xát trực tiếp thì H đã dùng gậy gỗ cao su đánh trực tiếp vào nhóm của A, hậu quả trúng vào tay của bị hại N5 đang điều khiển xe chở P1 và đánh trúng A ngồi phía sau do K đang điều khiển chở A làm xe lảo đảo bị ngã xuống đường.
Kết quả giám định pháp y N thì bị thương tích 1/3 giữa xương cánh tay bị gãy, tỷ lệ được xác định là 18%. Bị hại A thì bị hư hỏng mắt phải và chấn thương sọ não, tỷ lệ thương tật là 82%.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn Đ là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân và gây mất trật tự an toàn tại địa phương.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo Đ là người chủ mưu, chủ động yêu cầu các bị cáo khác để đánh trả thù nhóm bị hại và khi nhóm bị hại A chạy ngang qua, bị cáo là người tích cực chạy ra giữa đường để chặn đánh trúng người đang điều khiển xe là N5.
Bản thân bị cáo sau khi gây án ngày 01/7/2014, bị cáo còn có hành vi cá cược để thua tiền, bị Công an thành phố T xử phạt hành chính vào năm 2014 với số tiền 1.500.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo 14 năm tù về tội “Giết người” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Trong đó có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xem xét đến hoàn cảnh nhân thân của bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có cung cấp chứng từ đã bồi thường cho phía gia đình bị hại 30.000.000 đồng. Đây là tình tiết mới được pháp luật quy định. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức án theo luật định.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu nộp án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
Bởi các lẽ trên; Áp dụng Điều 355 Bộ Luật tố tụng Hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn Đ, sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt.
Áp dụng điểm a, điểm n, Khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999; Áp dụng Điều 51, Điều 57, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
1/ Xử phạt Nguyễn Tấn Đ 13 năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2025.
2/ Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
3/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao. - Viện Công tố và KSXXPT VKSNDTC tại Tp. HCM. - VKSND tỉnh Tây Ninh. - TAND tỉnh Tây Ninh. - Công an tỉnh Tây Ninh. - THADS tỉnh Tây Ninh. - Những người tham gia tố tụng. - TTG số 1 CA tỉnh Tây Ninh; - Lưu VP; HS vụ án, - TK: VNYX. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |