vanban.org

Bản án 271/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Kiều H:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Kiều H được ly hôn với ông Trần Quốc V. Giấy chứng nhận kết hôn số 84, quyển số 01 ngày 08/6/2004 do Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Phan Thị Kiều H và ông Trần Quốc V không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LÊ THỊ KIỀU H - TRẦN QUỐC VINH"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Kiều H:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 05 – 05 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Ngọc Thanh

2. Ông Nguyễn Đình Thức

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai Hảo – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 865/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 456/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 454/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kiều H, sinh năm 1982; HKTT và ngụ tại: Số B đường N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Quốc V, sinh năm 1979; HKTT và ngụ tại: Số B đường N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/10/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phan Thị Kiều H trình bày:

Bà và ông Trần Quốc V tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 84, quyển số 01 ngày 08/6/2004.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà H trình bày là do bất đồng quan điểm sống, tư tưởng sống của vợ chồng không thể hòa hợp nên mọi vấn đề trong cuộc sống đều có thể là nguyên nhân dẫn đến các bất đồng và cãi vã. Từ trước đến nay, mọi việc trong gia đình, chăm sóc, nuôi dạy con cái do một mình bà gánh vác, ông V không có trách nhiệm với gia đình, vợ con cũng như không phụ giúp kinh tế gia đình. Bên cạnh đó, ông V không chung thủy, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác từ năm 2014 cho đến nay. Bà đã cho ông V nhiều cơ hội để sửa chữa nhưng ông V cũng không thay đổi. Mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng không được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm của cả hai ngày càng lạnh nhạt nên vợ chồng bà ly thân từ năm 2014 cho đến nay, vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Quốc V.

Về con chung: Bà H khai nhận vợ chồng có hai người con chung là Trần Ngọc D, sinh ngày 24/02/2005 và Trần Anh T, sinh ngày 06/4/2009. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là Trần Anh T và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung là Trần Ngọc D đã thành niên và có khả năng lao động nên bà không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Bà H khai nhận vợ chồng không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà H khai nhận vợ chồng không có nợ chung.

Toà án nhân dân quận Tân Phú đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập đương sự cho ông Trần Quốc V nhưng phía bị đơn không có mặt tại Toà án để giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn: Có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú nhận xét quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 72, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đưn, bà Phan Thị Kiều H ly hôn với ông Trần Quốc V.

Về con chung: Con chung Trần Ngọc D, sinh ngày 24/02/2005 đã trưởng thành, phát triển bình thường nên không xem xét, con chung Trần Anh T, sinh ngày 06/4/2009 giao cho bà Phan Thị Kiều H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông V do bà H không yêu cầu.

Về tài sản chung: Không có, không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không xem xét.

Án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, sau khi nghị án Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 84, quyển số 01 ngày 08/6/2004 do Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Phan Thị Kiều H và ông Trần Quốc V thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông V là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Nay bà H yêu cầu ly hôn, ông V có nơi cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt bà Phan Thị Kiều H: Do bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 14/3/2025. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục xét xử vắng mặt ông Trần Quốc V: Do ông V vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông V.

Tại phiên tòa, ông V không có mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật. Ông V phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về yêu cầu của nguyên đơn: Bà Phan Thị Kiều H yêu cầu ly hôn với ông Trần Quốc V:

Căn cứ lời khai của bà H thấy rằng trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng bất đồng quan điểm từ những việc nhỏ nhặt trong cuộc sống. Bên cạnh đó, cả hai không có sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Ông V không cùng bà vun đắp kinh tế, xây dựng cuộc sống gia đình. Mặc dù, bà đã cố gắng hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm ngày càng lạnh nhạt nên dù vẫn sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống. Hơn thế, bà H xác nhận hiện nay bà không còn tình cảm với ông V, bà mong muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Tòa án nhiều lần triệu tập và tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông V vắng mặt. Điều này thể hiện ông V không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy, tình trạng mẫu thuẫn giữa bà H và ông V là có thật và đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có nên việc bà H yêu cầu được ly hôn với ông V là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

. Về quan hệ con chung: Bà H khai nhận vợ chồng có hai người con chung là Trần Ngọc D, sinh ngày 24/02/2005 và Trần Anh T, sinh ngày 06/4/2009. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là Trần Anh T và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung là Trần Ngọc D đã thành niên và có khả năng lao động nên bà không yêu cầu giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai nuôi là phải dựa vào quyền lợi của trẻ. Từ trước đến nay, cháu Trần Anh T chủ yếu do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tại bản khai ngày 15/01/2025, cháu T cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Ông V cũng không trình bày ý kiến, yêu cầu của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy để ổn định cuộc sống cũng như tâm lý của cháu T thì việc bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn phù hợp với lợi ích của trẻ và phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của bà H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Riêng cháu Trần Ngọc D đã thành niên và có khả năng lao động nên bà H không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về quan hệ tài sản:

- Về tài sản chung: Bà H khai nhận vợ chồng không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Bà H khai nhận vợ chồng không có nợ chung.

Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bà H chịu án phí theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Kiều H:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Kiều H được ly hôn với ông Trần Quốc V.

Giấy chứng nhận kết hôn số 84, quyển số 01 ngày 08/6/2004 do Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Phan Thị Kiều H và ông Trần Quốc V không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

- Về quan hệ con chung: Bà H khai nhận vợ chồng có hai người con chung là Trần Ngọc D, sinh ngày 24/02/2005 và Trần Anh T, sinh ngày 06/4/2009. Giao con chung là Trần Anh T cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông V do bà H không yêu cầu. Riêng con chung là Trần Ngọc D đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

+ Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Ông V được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội L), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về quan hệ tài sản:

+ Về tài sản chung: Bà H khai nhận vợ chồng không có tài sản chung.

+ Về nợ chung: Bà H khai nhận vợ chồng không có nợ chung.

2/ Về án phí:

- Bà Phan Thị Kiều H chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0045145 ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3/ Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ