vanban.org

Bản án 271/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 20/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Hà Văn P 06 ( Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự, nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HS - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2023/HS-ST
Ngày: 20/ 7/ 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quý

2. Bà Nguyễn Thị Loan

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 20/ 7/ 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 297/ 2023/ HSST ngày 29/ 6/ 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 313/ QĐXXST- HS ngày 06/ 7/ 2023 đối với bị cáo:

Hà Văn P - Sinh năm: 1987 (Tên gọi khác: H T); Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ L, huyện B T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Con ông: Hà Văn Ph (đã chết); Con bà: Phạm Thị N ( Đã bỏ đi không biết đi đâu, làm gì); Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 15/10/2021 Công an xã Đ L, huyện B T, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 0079807 ngày 15/10/2021 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, ( chưa chấp hành quyết định XPHC);

Nhân thân: Ngày 19/7/2006 bị UBND tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 1990 đưa Hà Văn P vào cơ sở giáo dục bắt buộc; Ngày 06/11/2008 bị UBND tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 3525 đưa Hà Văn P vào cơ sở giáo dục bắt buộc (Chấp hành xong ngày 08/11/2010); Ngày 06/9/2011 bị TAND huyện B T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 03 tháng 07 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản (Thời gian bị cáo bị xử phạt bằng thời hạn tạm giam); Ngày 10/9/2012 bị UBND tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 3525 đưa Hà Văn P vào cơ sở giáo dục bắt buộc (Chấp hành xong ngày 10/9/2014); Ngày 23/11/2015 TAND TP. Thanh Hóa xử phạt 06 tháng 13 ngày tù về tội Trộm cắp tài sản (Thời gian bị cáo bị xử phạt bằng thời hạn tạm giam); Ngày 28/5/2019 bị TAND huyện B T, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 01 đưa Hà Văn P vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Chấp hành xong ngày 01/5/2021.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” ;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn P: Bà Lương Thị Thanh V - Trợ giúp viên pháp lý nhà nước – Có mặt tại phiên tòa. Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa

Bị hại : Chị Lê Thị H, sinh năm 1986 - Vắng mặt Địa chỉ : 02/141 L T T, phường Đ V, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để tiêu xài, nên Hà Văn P đi bộ trên các tuyến đường của thành phố Thanh Hóa tìm sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 01h00’ ngày 03/8/2022 khi đến trước số nhà 30 T T, phường N T, thành phố Thanh Hóa, sau khi quan sát P thấy gia đình chị Lê Thị H sinh ngày 31/10/1986 trú tại 02/141/L T T, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa đang xây dựng không có cửa , không có người trông coi, nên P đã vào trong nhà. Sau khi lục soát P bê 03 thanh kim loại xây dựng mang ra ngoài đường mục đích mang đi bán lấy tiền ăn tiêu nhưng chưa kịp mang đi thì bị Tổ công tác của Công an phường N T phát hiện và bắt giữ. Công an phường đã tiến hành lập biên bản đưa P cùng tang vật về trụ sở để làm việc.

Quá trình điều tra xác minh xác định, ngày 15/10/2021 Hà Văn P bị Công an xã Đ L, huyện B T tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 0079807/QĐ-XPHC, P chưa chấp hành xong Quyết định xử phạt hành chính.

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 143 ngày 15/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa kết luận :

- 01( một) thanh kim loại dài 1,25m, phi 16 (ký hiệu VAS Gr40 d16) chưa qua sử dụng có giá 31.200đồng.

- 01( một) thanh kim loại dài 3,51m, phi 16 (ký hiệu VAS Gr40 d16) chưa qua sử dụng có giá 87.700đồng.

- 01( một) thanh kim loại dài 2,61m, phi 14 (ký hiệu Hòa phát d14) chưa qua sử dụng có giá 29.500đồng.

Tổng giá trị tài sản là 148.400 đồng”.

Quá trình điều tra Hà Văn P có các biểu hiện tâm thần. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu thập các tài liệu và giám định tâm thần đối với Hà Văn P. Tại Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 77/KLGĐ ngày 06/4/2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, Hà Văn P có bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ. Theo loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F70. Tại thời điểm trên Hà Văn P bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại bản cáo trạng số 243/CT -VKSTPTH ngày 28/ 6/ 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Hà Văn P về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Điểm a Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 173; Điểm h, q, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Mức hình phạt đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng: Từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự, nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Ý kiến bào chữa của trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo Hà Văn P:

Bị cáo Hà Văn P có hoàn cảnh khó khăn, bản thân bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và hiện đang phải sống một mình. Vì vậy đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm h, q, s Khoản 1 Điều 51 để xử phạt bị cáo mức thấp nhất mà đại diện viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiếm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.

[ 2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 01h00’ ngày 03/8/2022, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt 03 thanh sắt, nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Kết quả định giá tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 148.400 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Tuy trong vụ án này giá trị tài sản bị cáo trộm cắp dưới 2.000.000đ, chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng 15/10/2021 bị cáo đã bị Công an xã Đ L, huyện B T, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa chấp hành mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó đây là yêu tố định tội đối với bị cáo theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 173 của bộ luật hình sự;

Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Hà Văn P về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Trong vụ án này, bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trong xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, nên cần xử lý nghiêm.

Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; Bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm h, q, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[ 5] Về hình phạt:

Căn cứ vào nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

[ 6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự, nên không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm a Khoản 1 Điều 173; Điểm h, q, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điểm a Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Hà Văn P 06 ( Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự, nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại Điều 7a và Điểu 9 luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo và người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Thanh Hóa;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- VKSND TP. Thanh Hóa;

- Cơ quan CSĐT Công an TP. Thanh Hóa;

- Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;

- Trại tạm giam;

- Bị cáo;Bị hại; Người bào chữa;

- Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

Lê Thị Hương

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu TAND TP. Thanh Hóa.

Cỡ chữ