- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "N.V.D - C.X.T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Dũng.
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 12 Luật Đất đai; Điều 158 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 271/2023/DS-PT Ngày: 9+13/6/2023 V/v: Đòi quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Trần Thị Liên Anh
Các thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thúy
Bà Nguyễn Thị Lan Anh
Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thùy Trang, Thư ký
Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Thị
Ngọc Lan, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 9 và 13 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 409/2022/TLPT-DS ngày 19/10/2022 về việc "Đòi quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2022/DS-ST ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 243/2023/QĐ-PT ngày 01/6/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Dũng, sinh năm 1974.
Trú tại: Thôn 1, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Ông Cấn Xuân Tuấn (tên gọi khác: Cấn Xuân Tuân), sinh năm 1975.
Trú tại: Thôn 1, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Hòa, sinh năm 1979
- Chị Cấn Thị Thảo, sinh năm 1999
- Anh Cấn Xuân Đức, sinh năm 2003
Đại diện theo ủy quyền của bà Hòa, chị Thảo, anh Đức là ông Cấn Xuân Tuấn (văn bản ủy quyền ngày 13/6/2023).
- Bà Lê Thị Mùi, sinh năm 1979
- Cháu Nguyễn Trung Kiên, sinh năm 2012;
- Cháu Nguyễn Trung Hiếu, sinh năm 2015.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Kiên, cháu Hiếu là ông Nguyễn Văn Dũng và bà Lê Thị Mùi là bố mẹ đẻ.
Cùng trú tại: Trú tại: Thôn 1, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội.
Do có kháng cáo của ông Nguyễn Văn Dũng là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Dũng trình bày:
Ông Nguyễn Văn Dũng và gia đình đang sử dụng thửa đất số 316-1, tờ bản đồ số 07, diện tích 123,1m2, tại địa chỉ: Thôn 1, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội. Ngày 27/9/2018, UBND huyện Hoài Đức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn Dũng.
Thửa đất trên là một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 316, tờ bản đồ số 07, diện tích 226,4m2 của bố đẻ ông là cụ Nguyễn Văn Xê, theo GCNQSDĐ cấp ngày 11/8/2003 đứng tên cụ Nguyễn Văn Xê, sau đó cụ Xê tách thửa tặng cho ông là thửa đất 316-1.
Tại thời điểm cấp GCNQSDĐ cho cụ Xê, tại vị trí giáp ranh thửa 317 của gia đình ông Mão (là ông ngoại anh Tuấn) có ngôi nhà cấp 4 bốn của gia đình ông và còn lại khe rãnh giọt ranh rộng khoảng 40cm, dài khoảng 10m. Năm 2007, ông xây lại nhà kiên cố trên nền móng cũ nhà cấp 4 và sử dụng ổn định đất đến năm 2010, không có tranh chấp.
Khoảng 2008, anh Tuấn sang nói chuyện với bố ông đề nghị cùng dọn bỏ khe rãnh đất cho sạch và đề nghị cho lát gạch chỉ tại khe rãnh đất để cho sạch sẽ vì ngõ đi nhà anh Tuấn giáp với khe rãnh đất.
Từ năm 2010, giữa gia đình ông với gia đình ông Tuấn nhiều lần xảy ra tranh chấp khe rãnh đất giáp ranh 2 hộ. Năm 2017, hai bên xảy ra tranh chấp, UBND xã Lại Yên đã cắm mốc, xác định ranh đất cho hai hộ và hai bên đều nhất trí ký biên bản hòa giải thành.
Sau khi UBND xã cắm mốc xong, gia đình ông Tuấn bắn mái tôn khung thép, mái tôn, đổ nước sang khe rãnh đất thuộc quyền quản lý của gia đình ông khoảng 20cm. Tại vị trí đóng mốc giới giáp hộ ông Nguyễn Văn Thành, gia đình ông Tuấn xây tường sang phần đất nhà ông 20cm và gác máng nước đổ sang gây thấm nước vào nhà ở của gia đình ông.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Dũng có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc ông Tuấn phải bồi thường thiệt hại đã gây ra cho công trình nhà ở của gia đình ông, ông sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Tại phiên tòa, ông yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết các vấn đề sau:
- Buộc ông Cấn Xuân Tuấn dỡ bỏ bức tường vị trí cuối phần đất tranh chấp giáp với hộ ông Nguyễn Văn Thành lấn sang phần đất của gia đình ông, trả lại phần đất theo nguyên trạng mốc giới thửa đất 316-1, tờ bản đồ số 07, tại địa chỉ: Thôn 1, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội.
- Buộc ông Cấn Xuân Tuấn thay đổi hướng rãnh nước, đường ống thoát nước mưa từ mái tôn đổ vào phía công trình nhà ở của gia đình ông, gây thấm mốc, ảnh hưởng đến kết cấu nhà.
Ngoài ra, ông không có yêu cầu nào khác.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Mùi trình bày:
Bà đồng ý với toàn bộ quan điểm của chồng là ông Nguyễn Văn Dũng, không có yêu cầu, ý kiến gì khác. Bà xin vắng mặt khi Tòa án nhân dân các cấp giải quyết, xét xử vụ án.
* Bị đơn là ông Cấn Xuân Tuấn trình bày:
Gia đình ông đang sử dụng thửa đất số 317, tờ bản đồ 07 tại địa chỉ: Thôn 1, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội, có một cạnh giáp ranh với thửa đất của gia đình ông Nguyễn Văn Dũng. Ông sinh sống trên thửa đất này cùng bà ngoại từ năm 2008. Năm 2018, ông được tặng cho thửa đất này và ông đã được cấp GCNQSDĐ.
Tại vị trí giáp ranh thửa đất của gia đình ông Dũng, gia đình ông có 01 nhà cấp 4 xây dựng từ khoảng năm 1975. Năm 2009, ông xây dựng tường 10cm, cao 1,6m trên nền móng nhà cũ, quây tôn khoảng 1,4m và sau đó lợp tôn như hiện nay.
Quá trình sử dụng đất, gia đình ông Dũng nhiều lần tranh chấp đất với gia đình ông. Năm 2017, UBND xã Lại Yên tổ chức hòa giải, giải quyết tranh chấp và cắm mốc, xác định ranh giới đất cho hai hộ và hai bên đều nhất trí ký biên bản. Hiện nay, mốc giới đất bằng cọc sắt do UBND xã cắm vẫn còn.
Việc ông Dũng cho rằng gia đình ông bắn mái tôn, gác máng nước, đổ nước sang khe rãnh đất sang nhà ông Dũng, gây thấm nước vào nhà ở của ông Dũng và xây tường quay ngang có kích thước dài khoảng 20cm, cao hơn 1 mét sang phần đất nhà ông Dũng tại vị trí mốc giới giáp hộ ông Nguyễn Văn Thành là không đúng sự thật. Trên thực tế, gia đình ông xây bức tường giáp hộ ông Thành chỉ liên quan đến đất của gia đình ông và gia đình ông Thành, không liên quan đến phần đất của ông Dũng, còn việc ông gác máng nước và ống dẫn nước tại khe rãnh đất có tranh chấp để nhằm mục đích dẫn nước trên mái nhà ông Dũng đổ vào phần đất nhà ông khi trời mưa.
Ông không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dũng.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hòa trình bày:
Bà đồng ý với toàn bộ quan điểm của chồng là ông Cấn Xuân Tuấn, không có yêu cầu, ý kiến gì khác.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Cấn Thị Thảo trình bày:
Hiện nay chị đang sinh sống trên thửa đất số 317, tờ bản đồ 07, diện tích: 156,9m2, tại địa chỉ: Xóm 1, nay là Thôn 1, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Quyền sử dụng đất và tài tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng, sở hữu của bố mẹ chị là ông Tuấn và bà Hòa, bố mẹ chị được toàn quyền giải quyết tranh chấp, chị không có ý kiến gì khác.
Chị xin vắng mặt khi Tòa án nhân dân các cấp giải quyết, xét xử vụ án.
* Anh Cấn Xuân Đức là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không chấp hành, không có quan điểm về tranh chấp.
* Người làm chứng ông Nguyễn Văn Thành trình bày:
Hộ gia đình ông đang sử dụng thửa đất số 339-1, tờ bản đồ số 07 tại địa chỉ thôn 1, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, giáp ranh hộ ông Nguyễn Văn Dũng và ông Cấn Xuân Tuấn. Năm 2007, hộ gia đình ông đã được cấp GCNQSDĐ và sử dụng đất ổn định không có tranh chấp với các hộ giáp ranh. Về bức tường gạch quay ngang cuối vị trí đất, các bên đang có tranh chấp với nhau có kích thước khoảng 20cm x 2m do ông Tuấn xây dựng, có vị trí tiếp giáp với thửa đất của gia đình ông và gia đình ông Tuấn, không liên quan đến phần đất của ông Dũng. Nay các bên tranh chấp, ông không có ý kiến, đề nghị gì.
* Người làm chứng ông Phạm Đình Lê trình bày: Gia đình ông đang sử dụng thửa đất giáp ranh với hộ gia đình ông Cấn Xuân Tuấn và không có tranh chấp gì với các hộ liền kề. Việc ông Dũng và ông Tuấn có tranh chấp về ranh giới đất, ông không có yêu cầu, đề nghị gì.
* Người làm chứng ông Vũ Tiến Tiếp trình bày: Phần đất gia đình ông đang sử dụng giáp ranh với nhà ông Cấn Xuân Tuấn. Gia đình ông đã được cấp GCNQSDĐ và sử dụng ổn định không tranh chấp gì với các hộ liền kề. Việc ông Dũng và ông Tuấn tranh chấp về gianh giới đất ông không có liên quan và không yêu cầu, đề nghị gì.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2022/DS-ST ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Dũng.
Ông Nguyễn Văn Dũng được quyền sử dụng 1,6m2 đất tại vị trí giáp ranh giữa thửa đất số 317 tờ bản đồ 07 và thửa đất số 316-1, tờ bản đồ 07 tại địa chỉ: Xóm 1, nay là Thôn 1, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội. (Có sơ đồ kèm theo)
Ông Cấn Xuân Tuấn phải tháo dỡ 01 ống dẫn nước, đường kính 5cm, 40cm máng tôn dẫn nước trên phần đất trống.
Ông Nguyễn Văn Dũng có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Dũng về việc buộc ông Cấn Xuân Tuấn tháo dỡ bức tường quay ngang kích thước 21x1,43cm xây đơn không trát cuối vị trí đất tranh chấp giáp với gia đình ông Nguyễn Văn Thành.
3. Đình chỉ yêu cầu về bồi thường thiệt hại tài sản của ông Nguyễn Văn Dũng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Dũng kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Dũng đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, xác định phần diện tích của gia đình ông là hết phần giọt gianh tức là qua phần cọc sắt do UBND xã cắm, sang phần đất nhà ông Tuấn từ 10 đến 15cm.
Về chi phí tố tụng: Ông đã nộp 10 triệu đồng tạm ứng chi phí tố tụng nhưng chưa được Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức quyết toán. Bản án sơ thẩm buộc ông phải chịu 2.500.000 đồng chi phí tố tụng là không đúng.
Đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông và không buộc ông phải chịu chi phí tố tụng.
Bị đơn ông Cấn Xuân Tuấn đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm
HĐXX công bố lời khai của các đương sự vắng mặt.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2022/DS-ST ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội về cách tuyên án đối với chi phí tố tụng chưa được quyết toán; bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Dũng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Dũng nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.
Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Hòa, chị Cấn Thị Thảo, anh Cấn Xuân Đức có văn bản ủy quyền cho ông Tuấn nên HĐXX xét xử theo quy định.
Về nội dung:
* UBND xã Lại Yên cung cấp:
Thửa đất số 316-1, tờ bản đồ 07 tại địa chỉ: Thôn 1, xã Lại Yên có nguồn gốc của cha ông của ông Nguyễn Văn Dũng. Ông Dũng đã được cấp GCNQSDĐ diện tích là: 123,1m2.
Thửa đất số 317, tờ bản đồ 07 tại địa chỉ: Thôn 1, xã Lại Yên có nguồn gốc của cha ông Cấn Xuân Tuấn. Ông Tuấn đã được cấp GCNQSDĐ đối với diện tích: 156,9m2.
UBND xã đã căn cứ vào bản đồ địa chính năm 2002 để lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông Dũng và hộ gia đình ông Tuấn. Chiều dài các cạnh và hình thể thửa đất được cấp phù hợp với bản đồ địa chính năm 2002.
Quá trình sử dụng đất, hộ ông Dũng và hộ ông Tuấn nhiều lần xảy ra tranh chấp mốc giới đất và có đơn yêu cầu UBND xã giải quyết tranh chấp vào các năm 2014, 2016, 2017 và 2019. Theo Biên bản hòa giải ngày 15/6/2019, gia đình ông Dũng và gia đình ông Tuấn đã thống nhất được mốc giới đất và UBND xã đã đóng cọc sắt xác định ranh giới đất giữa hai hộ, hiện cọc mốc sắt vẫn còn.
Hiện nay, hộ ông Dũng và hộ ông Tuấn sử dụng đất không có tranh chấp mốc giới với các hộ liền kề khác.
Theo hiện trạng sử dụng đất của hộ ông Dũng và hộ ông Tuấn đều nhiều hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do tại thời điểm lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 2 hộ, UBND xã tiến hành đo đạc theo phương pháp thủ công nên có sự chênh lệch về số liệu đo đạc.
Ngày 27/9/2018, ông Nguyễn Văn Dũng đã được UBND huyện Hoài Đức cấp GCNQSDĐ số CP112331 đối với thửa số 316-1, tờ bản đồ 07, diện tích: 123,1m2, địa chỉ thửa đất tại: Xóm 1, nay là Thôn 1, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội.
Ngày 20/10/2003, hộ ông Cấn Xuân Tuân (Tuấn) đã được UBND huyện Hoài Đức cấp GCNQSDĐ số S562588 đối với thửa số 317, tờ bản đồ 07, diện tích: 156,9m2, địa chỉ thửa đất tại: Xóm 1, nay là Thôn 1, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội.
Đến nay, ông Nguyễn Văn Dũng và ông Cấn Xuân Tuấn đều không có khiếu nại, thắc mắc về việc cấp GCNQSDĐ và sử dụng đất không có tranh chấp với các hộ liền kề khác.
Quá trình sử dụng đất, hai bên nhiều năm có tranh chấp về mốc giới đất. Năm 2017, ông Nguyễn Văn Dũng có đơn tranh chấp đề nghị UBND xã Lại Yên giải quyết tranh chấp. UBND xã đã tiến hành hòa giải, ông Dũng và ông Tuấn nhất trí xác định mốc giới đất theo cọc mốc giới sắt do UBND xã cắm mốc. Cọc mốc do UBND xã Lại Yên cắm mốc phù hợp với hiện trạng công trình xây dựng của ông Tuấn từ năm 2009 và công trình xây dựng nhà ông Dũng từ năm 2007 trên nền móng cũ.
Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án thể hiện: Phần diện tích đất tranh chấp là 1,6m2, có kích thước chiều rộng 15cm, chiều dài là 10,22m, phần giọt gianh của mái ngói tầng 2 của nhà ông Dũng tính từ mép tường nhà tầng 2 của nhà ông Dũng ra khoảng đất trống là 15cm, sát với cọc mốc giới đất sắt do UBND xã cắm mốc vào năm 2017. Phần tường nhà cấp 4 mái tôn của gia đình ông Tuấn xây dựng năm 2009 trên nền móng cũ sát với cọc mốc giới. Chiều dài cạnh phía Tây của thửa 316-1 đo thực tế hết tường là 12,95m, tính cả khe tường tranh chấp 0,15m, tổng là 13,10m là phù hợp với GCN được cấp.
Như vậy, có đủ căn cứ để xác định ranh giới thửa đất của ông Nguyễn Văn Dũng và ông Cấn Xuân Tuấn là phần tường nhà cấp 4 của ông Cấn Xuân Tuấn sát với cọc mốc sắt do UBND xã Lại Yên cắm năm 2017, phù hợp với phần diện tích ông Dũng bớt lại khi xây dựng để cho giọt gianh nước chảy theo phong tục tập quán địa phương. Bản án sơ thẩm xác định 1,6m2 đất trống giáp ranh thửa 316-1 với thửa 317 thuộc quyền sử dụng của ông Dũng và buộc ông Cấn Xuân Tuấn thay đổi hướng rãnh nước, đường ống thoát nước mưa từ máng tôn đổ vào phía công trình nhà ở của gia đình ông Dũng là có căn cứ. Không có căn cứ xác định ranh giới giữa thửa 316-1 với thửa 317 ở vị trí cách cọc sắt do UBND xã cắm về phía thửa 317 từ 10 đến 15cm như trình bày của ông Dũng.
Hiện nay tại phần đất 1,6m2 đang tranh chấp có 01 ống dẫn nước đường kính 5cm và một phần chiều dài của máng tôn (khoảng 40cm) của gia đình ông Tuấn ở vị trí đất trống, nay ông Dũng yêu cầu ông Tuấn phải thay đổi hướng rãnh nước là có căn cứ, do đó buộc ông Tuấn phải có trách nhiệm tháo dỡ ống dẫn nước và phần máng tôn chìa vào phần đất trống giáp ranh giữa hai thửa đất.
Cuối vị trí đất tranh chấp có 01 đoạn tường bao xây đơn, không trát do gia đình ông Tuấn xây dựng năm 2009 có kích thước 21x1,43m. Theo bản ảnh chụp hiện trạng xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/12/2021 của Tòa án, bức tường do gia đình ông Tuấn xây nằm ngoài vị trí đất của gia đình ông Dũng phù hợp với lời khai của người làm chứng là ông Nguyễn Văn Thành và xác nhận của ông Dũng trên bản ảnh hiện trạng. Do đó, bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Dũng về việc buộc ông Tuấn tháo dỡ phần tường này là phù hợp.
Ông Dũng rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản đối với ông Tuấn. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dũng là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên bản án sơ thẩm đình chỉ yêu cầu này của nguyên đơn là đúng quy định.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của HĐXX.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Dũng.
Về án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm:
Do sửa án sơ thẩm, ông Dũng không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại dự phí đã nộp.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Cấn Xuân Tuấn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn Dũng phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng ông Dũng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0015239 ngày 19/10/2021 của Chi cục thi hành án huyện Hoài Đức Thành phố Hà Nội. Bản án chưa tuyên đối trừ về án phí là có thiếu sót.
Về chi phí tố tụng:
Ngày 29/11/1021 ông Dũng nộp 10.000.000 đồng tạm ứng chi phí xem xét thẩm định và định giá theo thông báo của Tòa án huyện Hoài Đức.
Ngày 04/7/2022 Tòa án đã ra Thông báo chi phí tố tụng và báo ông Dũng ngày 14/7/2022 đến tòa án nhận lại tạm ứng chi phí tố tụng. Ông Dũng có đến đến tòa nhưng chưa nhận lại số tiền này nên ông Dũng có nghĩa vụ liên hệ với Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức nhận lại tạm ứng chi phí tố tụng là 5.000.000 đồng.
Do ông Dũng được chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nên bản án sơ thẩm buộc ông Nguyễn Văn Dũng và ông Cấn Xuân Tuấn mỗi người phải chịu ½ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền là: 2.500.000đ là đúng quy định tại Điều 157, 158 BLTTDS. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Dũng về nội dung này.
Ông Nguyễn Văn Dũng được nhận lại số tiền tạm ứng chi phí tố tụng là 2.500.000đ do ông Cấn Xuân Tuấn thanh toán.
Vì các lẽ trên, áp dụng Khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2022/DS-ST ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 158, 159, 160, 161, 163, 164, 169, 175 Bộ luật dân sự 2015;
- Điều 12, 100, 166, 168 Luật đất đai năm 2013;
- Điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Dũng.
Ông Nguyễn Văn Dũng được quyền sử dụng 1,6m2 đất tại vị trí giáp ranh giữa thửa đất số 317 tờ bản đồ 07 và thửa đất số 316-1, tờ bản đồ 07 tại địa chỉ: Xóm 1, nay là Thôn 1, xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội. (Có sơ đồ kèm theo)
Ông Cấn Xuân Tuấn phải tháo dỡ 01 ống dẫn nước, đường kính 5cm, 40cm máng tôn dẫn nước trên phần đất trống.
Ông Nguyễn Văn Dũng có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Dũng về việc buộc ông Cấn Xuân Tuấn tháo dỡ bức tường quay ngang kích thước 21x1,43cm xây đơn không trát cuối vị trí đất tranh chấp giáp với gia đình ông Nguyễn Văn Thành.
3. Đình chỉ yêu cầu về bồi thường thiệt hại tài sản của ông Nguyễn Văn Dũng.
4.Về án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Dũng được nhận lại 300.000 đồng dự phí kháng cáo đã nộp theo Biên lai thu dự phí kháng cáo số 0015924 ngày 16/8/2022 của Chi cục thi hành án huyện Hoài Đức Thành phố Hà Nội
Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn Dũng phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng ông Dũng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0015239 ngày 19/10/2021 của Chi cục thi hành án huyện Hoài Đức Thành phố Hà Nội.
Ông Cấn Xuân Tuấn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về chi phí tố tụng: Ông Cấn Xuân Tuấn và ông Nguyễn Văn Dũng mỗi người phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền là: 2.500.000đ.
Ông Nguyễn Văn Dũng được nhận lại số tiền tạm ứng chi phí tố tụng là 2.500.000đ do ông Cấn Xuân Tuấn thanh toán.
Ông Dũng có nghĩa vụ liên hệ với Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức nhận lại tạm ứng chi phí tố tụng là 5.000.000 đồng.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSNDTP Hà Nội; - TAND huyện Hoài Đức; -Chi cục THADS huyện Hoài Đức; - Các đương sự; - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. Các Thẩm phán | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Liên Anh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |