- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 271/2020/HS-PT Ngày 25 - 9 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tấn Trường
Ông Trương Công Thi
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Ba, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Ân - Kiểm sát viên.
Vào ngày 25 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 232/2020/TLPT-HS ngày 1 tháng 7 năm 2020, đối v i cáo Hoàng Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Do có kháng cáo của cáo và kháng cáo của đại diện hợp pháp người hại đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2020/HS-ST ngày 25/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
* Bị cáo có kháng cáo:
Hoàng Thị H: sinh ngày 04 tháng 11 năm 1976 tại Nam Đ nh; Nơi ĐKHKTT: số 06 đường V, phường V1, thành phố N, tỉnh Nam Đ nh; Nơi cư trú: 80 đường N1, phường T, quận H1, Đà Nẵng; Trình độ học vấn; 12/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn Th (1940) và à Bùi Th Nh (1941); Gia đình có 03 anh ch em, cáo là con thứ hai; Chồng: Trương Vũ N2 (1976) đã ly hôn, cáo có 03 con (l n nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2010).
Tiền án, tiền sự: Không;
B cáo ắt tạm giam ngày 26/12/2019. Có mặt tại phiên toà.
* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị H:
Ông Bùi Xuân N3 - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng, ào chữa theo yêu cầu của Tòa án. Có mặt.
* Đại diện hợp pháp của Người bị hại có kháng cáo: Bà Trần Th Phương D, sinh năm 1966 (đã chết); Đại diện hợp pháp của bà D là ông Nguyễn Xuân Ch (là chồng bà D), sinh năm 1964; Trú tại: 61 Đường T1, phường K, quận C1, thành phố Đà Nẵng; Ông Ch uỷ quyền cho bà Hoàng Thiên V, sinh năm 1986 (con gái bà D); Trú tại: 61 Đường T1, phường K, quận C1, thành phố Đà Nẵng tham gia tố tụng. Bà Hoàng Thiên V kháng cáo. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 10/6/2019 Hoàng Th H, thông qua một người ạn tên My (không rõ lai l ch) đã nhờ một người đàn ông tên Hiến, làm ở một tiệm photocopy trên đường N4, quận S (không rõ lai l ch) làm giả một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số co 001992, thửa đất số 127, tờ ản đồ số 04, đ a chỉ lô 77, khu B2-72, khu đô th ven sông H2, ĐN, phường H2, quận N5, thành phố Đà Nẵng v i diện tích 110m2. Sau khi có được GCNQSDĐ giả nêu trên, ngày 29/6/2019 H đem đến cơ sở d ch vụ cầm đồ tại số 61 Đường T1, thành phố Đà Nẵng của ch Trần Th Phương D (sinh năm 1966, trú tại 61 Đường T1, phường K, quận C1, thành phố Đà Nẵng) để thế chấp vay mượn tiền, ch D tưởng đây là giấy CNQSDĐ thật, nên cho H vay số tiền 10.000 USD và 450.000.000đ. Sau đó từ ngày 01/7/2019 đến ngày 09/7/2019 H tiếp tục 03 lần vay thêm của ch D v i số tiền 1.170.000.000đ. Tất cả các lần vay mượn trên H đều viết giấy vay mượn tiền (trong các giấy mượn tiền đều có ghi số tiền vay, tài sản thế chấp và ghi đã thanh toán lãi đến hết ngày 12/7/2019) và cam kết đến ngày 12/7/2019 sẽ thanh toán đủ số tiền đã vay của ch D. Tuy nhiên, đến ngày 13/7/2019 H vẫn chưa trả cho ch D theo cam kết và ch D cũng không liên lạc được v i H, nên ch D đem GCNQSDĐ trên đến Văn phòng Công chứng PN để làm thủ tục chuyển nhượng theo thỏa thuận thì được thông áo giấy này là giả.
Số tiền chiếm đoạt được của ch D, H khai đã sử dụng hết vào việc đánh ạc tại Casino F, thuộc phường M, quận N5, TP Đà Nẵng và H đã trả được cho ch D số tiền 50.000.000đ tiền gốc và trả 360.000.000đ tiền lãi. Tuy nhiên, hiện nay à Trần Th Phương D đã ệnh chết nên không thể đối chất.
Tại ản Kết luận giám đ nh số: 85/GĐ-TL ngày 17/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 001992, thửa đất số 127, tờ ản đồ số 04, đ a chỉ lô 77, khu B2-72, khu đô th ven sông H2, ĐN, phường H2, quận N5, thành phố Đà Nẵng v i diện tích 110m2 là giả.
Tại Bảng tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nư c Việt Nam công ố ngày 26/9/2019 của Đồng Việt Nam v i Đô la Mỹ là 23.155VND/1USD. Do đó, số tiền 10.000USD x 23.155VND = 231.550.000đồng.
Về tang vật vụ án tạm giữ:
1. 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 001992, thửa đất số 127, tờ ản đồ số 04, đ a chỉ lô 77, khu B2-72, khu đô th ven sông H2, ĐN, phường H2, quận N5, thành phố Đà Nẵng v i diện tích 110m2;
2. 04 ( ốn) Giấy mượn tiền có thế chấp tài sản gắn liền vào các ngày 29/6/2019, 01/7/2019, 08/7/2019, 09/7/2019 đều ghi tên Hoàng Th H.
Các vật chứng nêu trên, trong quá trình giải quyết đã được thống kê lưu vào hồ sơ vụ án nên không đề cập giải quyết.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2020/HS-ST ngày 25/5/2020 Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Tuyên ố cáo Hoàng Th H phạm các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ: Điểm a khoản 4 Điều 174; điềm khoản 3 Điều 341; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 55 BLHS.
Xử phạt: Hoàng Th H 10 (Mười) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung của cả 02 tội uộc cáo phải chấp hành là 12 (Mười hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt tạm giam 26/12/2019.
Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn quyết đ nh về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Ngày 08/6/2020, cáo Hoàng Th H có kháng cáo v i nội dung xin giảm hình phạt.
Ngày 08/6/2020 đại diện hợp pháp của hại: à Hoàng Thiên V kháng cáo toàn ộ ản án.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của cáo và kháng cáo của đại diện hợp pháp của hại, giữ nguyên ản án sơ thẩm.
Luật sư ào chữa cho cáo đề ngh Hội đồng xét xử xem xét cho cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, chồng ly hôn, hiện nuôi con nhỏ, gia đình khó khăn, từ đó đề ngh giảm cho cáo một phần hình phạt. Về kháng cáo của đại diện hợp pháp hại về khoản tiền là không có cơ sở đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận, giữ nguyên ản án sơ thẩm về phần dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, xem xét ý kiến của Luật sư, quan điểm của Viện kiểm sát, sau khi thảo luận và ngh án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận đ nh như sau:
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, i cáo Hoàng Th H thừa nhận hành vi và tội danh như Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng, chỉ giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện hợp pháp của hại có kháng cáo, giữ nguyên nội dung kháng cáo đề ngh Hội đồng xét xử xử tăng hình phạt đối v i cáo và xem xét lại khoản tiền 360.000.000 đồng cho phía hại.
Lời khai nhận tội của cáo phù hợp v i các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng đ nh: Hoàng Th H đã nhờ 01 người đàn ông tên Hiến (không rõ nhân thân, lai l ch) làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 001992 mang tên Hoàng Th H. Sau đó trong khoảng thời gian từ ngày 29/6/2019 đến ngày 09/7/2019, Hoàng Th H đã đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả này thế chấp cho à Trần Th Phương D để vay số tiền 10.000 USD (tương đương 231.550.000đ) và 1.620.000.000 đ (Nhưng thực tế H chỉ nhận tổng cộng 1.491.550.000đ vì bà D đã trích trừ tiền lãi trư c khi giao tiền tổng cộng 360.000.000đ). Tổng giá tr tài sản cáo H đã chiếm đoạt của bà D là 1.491.550.000đ.
V i hành vi phạm tội đó của cáo Hoàng Th H nên Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của cáo Hoàng Th H, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Đây là vụ án có tính chất đặc iệt nghiêm trọng, do cần tiền tiêu xài cho nhu cầu của ản thân mà cáo đã sử dụng giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của cáo đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn ình thường của các cơ quan nhà nư c, tổ chức trong hoạt động quản lý hành chính, đồng thời trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Ngoài tình tiết đ nh khung quy đ nh tại điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS “Chiếm đoạt tài sản tr giá 500.000.000đ trở lên”, điểm khoản 3 Điều 341 BLHS “Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc iệt nghiêm trọng”, cáo còn phải ch u thêm tình tiết tăng nặng “Phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy đ nh tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Khi xét xử sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho cáo, như: đã thành khẩn khai áo, có thái độ ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình cáo khó khăn, gia đình cáo có công v i Cách mạng, cha mẹ cáo được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến; cáo đã tác động gia đình nộp một số tiền để khắc phục một phần hậu quả. Đó là các tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Từ đó Toà án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho cáo và tuyên mức án đối v i cáo là tương xứng v i hành vi, tính chất và hậu quả do hành vi phạm tội của cáo gây ra. Trong giai đoạn phúc thẩm, cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào m i nên kháng cáo của cáo không được xem xét chấp nhận, giữ nguyên ản án sơ thẩm.
Xét kháng cáo của đại diện hợp pháp của hại, thấy rằng: Về trách nhiện hình sự như đã phân tích trên, Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào tính chất hành vi, hậu quả của vụ án, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiện hình sự, nhân thân của cáo để tuyên phạt cáo 10 năm tù về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 năm 6 tháng tù về tội “ Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” là phù hợp v i quy đ nh của pháp luật. Về trách nhiện dân sự, thấy: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của người hại à Hoàng Thiên V yêu cầu uộc cáo Hoàng Th H phải ồi thường tổng số tiền 1.851.550.000đ. Nhưng chỉ có cơ sở xác đ nh cáo chiếm đoạt của à Trần Th Phương D số tiền 1.491.550.000đ. Tuy cáo trạng của Viện kiểm sát xác đ nh cáo chiếm đoạt của bà D số tiền 1.851.550.000 đồng là chưa chính xác, vì căn cứ lời khai của cáo, giấy vay tiền thể hiện cáo đã thanh toán lãi cho bà D đến ngày 12/7/2019, tổng cộng 360.000.000 đồng. Số tiền này bà D đã trích trừ trư c mỗi khi giao tiền cho cáo nên có cơ sở xác đ nh số tiền cáo thực nhận và chiếm đoạt của bà D là 1.491. 550.000 đồng. Do vậy, Tại phiên toà sơ thẩm kiểm sát viên đã điều chỉnh, xác đ nh lại số tiền cáo đã chiếm đoạt của bà D là 1.491.550.000 đồng. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm uộc cáo phải ồi thường số tiền đã chiếm đoạt của người
hại là 1.491.550.000 đồng. Gia đình cáo đã nộp được 30.000.000 đồng, còn lại 1.461.550.000 đồng, cáo phải tiếp tục nộp để ồi thường là đúng.
Từ những vấn đề phân tích và lập luận nêu trên, thấy rằng ản án sơ thẩm đã xét xử có căn cứ và đúng pháp luật, kháng cáo của cáo và kháng cáo của đại diện hợp pháp của hại không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, giữ nguyên ản án sơ thẩm như đề ngh của Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm hôm nay.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên cáo phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Ngh quyết 326/NQ-UBTVQHK14 về án phí, lệ phí Toà án.
Các quyết đ nh khác của ản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng ngh (về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm) có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của cáo Hoàng Th H và kháng cáo của à Hoàng Thiên V là đại diện hợp pháp của hại, giữ nguyên ản án sơ thẩm.
1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm khoản 3 Điều 341; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt cáo Hoàng Th H 10 (mười) năm tù về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội uộc cáo phải chấp hành là 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt tạm giam 26/12/2019.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tuyên uộc cáo Hoàng Th H phải ồi thường cho gia đình người hại Trần Th Phương D số tiền 1.491.550.000 đồng (Một tỷ, ốn trăm chín mư i mốt triệu, năm trăm năm mươi ngàn đồng). Gia đình cáo đã ồi thường 30.000.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng, còn lại cáo phải tiếp tục ồi thường 1.461.550.000 đồng (Một tỷ, ốn trăm sáu mươi mốt triệu, năm trăm năm mười ngàn đồng).
Kể từ ngày ản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà cáo Hoàng Th H không thực hiện nghĩa vụ thì phải ch u thêm khoản lãi suất v i số tiền chậm tả tường ứng v i thời hạn cham trả. Mức lài suất chậm trả được xác đ nh theo thoả thuận của các ên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy đ nh tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thoả thuận thì thực hiện theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí phúc thẩm hình sự: B cáo Hoàng Th H phải ch u 200.000 đồng tiền án phí phúc thẩm hình sự.
Các quyết đ nh khác của ản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND TP Đà Nẵng; - VKSND TP Đà Nẵng; - Công an TP Đà Nẵng; - Cục THA dân sự TP Đà Nẵng; - Sở tư pháp TP Đà Nẵng; - Trại tạm giam CATP Đà Nẵng; - Bị cáo (qua trại giam); - Những người tham gia tố tụng; - Lưu văn thư; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Cường |