vanban.org

Bản án 270/2024/DSPT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/04/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/04/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trương Chí C1;

Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trương Chí C1và bà Phạm Thị Hồng Nphải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Đặng Kim Csố tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. Cụ thể, mỗi người phải trả cho bà Csố tiền là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "CUC - NGUYET"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trương Chí C1;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 270/2024/DSPT
Ngày: 01- 4 - 2024
Về việc: Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo

Các Thẩm phán: 1. Bà Trần Thị Thủy

2. Bà Lê Thị Mỹ Nhung

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Thương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 101/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;

Do bản án dân sự sơ thẩm số 509/2023/DS-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 676/2024/QĐPT-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2744/2024/QĐ-HPT ngày 08 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 3636/2024/QĐ-HPT ngày 26 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đặng Kim C, sinh năm: 1957;

Địa chỉ: Số A khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Bùi Trần Phú TLuật sư của Văn phòng Lthuộc Đoàn luật sư tỉnh A (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số G đường H, khóm Đ, phường M, thành phố L, Tỉnh An Giang

Bị đơn: - Bà Phạm Thị Hồng N, sinh năm: 1982;

Địa chỉ: Số A khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Ông Trương Chí C1sinh năm 1982 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Số A đường N, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Thiện Đ, sinh năm 1964 (Có mặt);

Địa chỉ: Số A, đường C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đặng Kim Ctrình bày:

Vào đầu năm 2017, bà Ccó cho con gái là bà Phạm Thị Hồng Nvà con rễ là ông Trương Chí C1vay số tiền 500.000.000 đồng để mua nhà, vay không tính lãi, không quy định thời gian trả, chỉ thỏa thuận là khi nào bà Ccần thì bà sẽ báo trước cho vợ chồng ông C1và bà N

Do mâu thuẫn nên bà Nvà ông C1đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 853/2020/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình giải quyết ly hôn bà Nthừa nhận có vay của bà Csố tiền 500.000.000 đồng. Ông C1và bà Nthống nhất sẽ bán nhà để trả nợ cho bà C, nên bà Ckhông yêu cầu giải quyết nợ của ông C1và bà Ntrong vụ án ly hôn. Tuy nhiên, giữa tháng 9/2020 bà Ccó hỏi ông C1về việc trả nợ cho bà như thế nào thì ông C1nói bà đi thưa đi thì ông C1mới trả. Do đó, bà Ckhởi kiện yêu cầu bà Nvà ông C1liên đới trả cho bà Csố tiền 500.000.000 đồng, bà Ckhông yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà Phạm Thị Hồng Ntrình bày:

Bà và ông C1là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 853/2020/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đầu năm 2017, mẹ của bà là bà Đặng Kim Ccó cho vợ chồng bà Nvà ông C1vay số tiền là 500.000.000 đồng, không lãi suất, mục đích vay là để hoàn tiền nhà cho các chị em của ông C1Khi vay không có thỏa thuận thời hạn trả nhưng có hứa là vợ chồng bà cùng làm để trả dần cho bà CSau đó, chưa trả tiền thì vợ chồng bà Nbất hòa, dẫn đến ly hôn. Khi ly hôn, ông C1xác nhận là có nợ bà Csố tiền 500.000.000 đồng và hứa sẽ bán nhà trả nợ cho bà Cnên bà Ckhông yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án ly hôn. Sau khi ly hôn, ông C1không chịu bán nhà để trả nợ mà nói là bà Cđi kiện thì ông C1mới trả. Bà N1xác nhận, bà và ông C1có vay của bà Đặng Kim Csố tiền 500.000.000 đồng, khi vay bà N1có viết biên nhận cho bà Cđể làm tin. Biên nhận do một mình bà N1viết do ông C1không biết chữ. Nay bà Ckhởi kiện, bà N1đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà Cvà yêu cầu ông C1có trách nhiệm liên đới cùng bà N1trả số tiền 500.000.000 đồng cho bà Đặng Kim CCụ thể, bà N1và ông C1mỗi người phải có trách nhiệm trả cho bà Csố tiền 250.000.000 đồng.

Bị đơn ông Trương Chí C1có bản tự khai trình bày:

Ông và bà N1là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 853/2020/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với việc bà Đặng Kim Cyêu cầu ông và bà N1phải trả số tiền đã mượn là 500.000.000 đồng, thì ông hoàn toàn không biết việc bà N1mượn tiền của bà Cnhư thế nào và sử dụng vào việc gì, nên ông không có nghĩa vụ cùng bà N1trả nợ cho bà CVì vậy, ông không đồng ý liên đới với bà N1trả nợ cho bà C

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 509/2023/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trương Chí C1và bà Phạm Thị Hồng Nphải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Đặng Kim Csố tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. Cụ thể, mỗi người phải trả cho bà Csố tiền là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng, thanh toán một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 13/10/2023, bị đơn ông Trương Chí C1 có đơn kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Đặng Kim C và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Trương Chí C1có người đại diện theo ủy quyền là ông Đoàn Thiện Đvẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn bà Đặng Kim Cvà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn ông Trương Chí C1 có người đại diện theo ủy quyền là ông Đoàn Thiện Đ đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm với các lý do sau:

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/6/2020, Tòa án quận Tlấy lời khai ông Trương Chí C1sinh năm 1973, địa chỉ: 5 B, Phường A, quận T không phải là ông Trương Chí C1 trong vụ án này, vì ông Trương Chí C1trong vụ án này từ trước tới nay vẫn chỉ ở một địa chỉ số A N, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bà Phạm Thị Hồng Nđã tự ngụy tạo hồ sơ để yêu cầu ông C1trả nợ cho bà Clà không có căn cứ, vì bản thân ông C1là người Hoa, không biết chữ và không ký vào giấy vay tiền của bà C

- Phía ông C1yêu cầu được đối chất làm rõ, nhưng phía bà Ckhông có mặt, chứng tỏ không dám đối diện với sự thật về việc không có chuyện vay mượn tiền.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh:

- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm.

- Về nội dung: Với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, xét đơn kháng cáo của bị đơn, đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm, nhưng không xuất trình được chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có cơ sở để chấp nhận.

Nhận thấy, bản án sơ thẩm đã xét xử đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trương Chí C1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét kháng cáo của ông Trương Chí C1 cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng, căn cứ vào Biên bản lấy lời khai của một người khác để gán ghép cho ông, suy diễn không có căn cứ, không khách quan, nội dung bản án ghi không trung thực với lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền. Ông không có ký vào giấy vay mượn tiền của bà Cviệc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông phải trả nợ cho bà Công không đồng ý. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, cùng với các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện ngày 10/01/2017 ông Trương Chí C1và bà Phạm Thị Hồng N có mượn của bà Đặng Kim C số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng không xác định thời hạn vay và không có lãi. Giấy nhận nợ do bà Nviết và ký tên.

Căn cứ vào biên bản lấy lời khai ông Trương Chí C1ngày 29/6/2020, bản tự khai ngày 08/9/2020 của ông Trương Chí C1 và Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 10/9/2020 giữa bà Phạm Thị Hồng Nvà ông Trương Chí C1 thể hiện ông C1thừa nhận vợ chồng ông có nợ bà Đặng Kim Csố tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Số tiền này sau khi ly hôn ông C1và bà Nvẫn chưa trả cho bà CDo đó, việc bà Clàm đơn khởi kiện yêu cầu ông C1và bà Ncùng liên đới trả cho bà số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng là có căn cứ.

Xét, người đại diện của ông Trương Chí C1cho rằng tại biên bản lấy lời khai ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú không phải là ông C1, vì ông không ở địa chỉ 5 B, phường A, quận Tmà từ trước đến nay chỉ ở mỗi địa chỉ 1 N, phường H, quận THội đồng xét xử xét thấy, về nội dung tại biên bản lấy lời khai này đúng với sự việc thuận tình ly hôn của vợ chồng ông C1Tòa án cấp sơ thẩm có sai sót khi ghi nhầm địa chỉ của ông C1, nhưng không làm thay đổi nội dung vụ việc. Mặt khác, tại bản tự khai ông C1cũng thừa nhận vợ chồng ông còn nợ tiền bà Ckhi nào bà Cđòi ông sẽ trả.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C1kháng cáo cho rằng ông không ký vào giấy vay tiền, nhưng đây là số tiền vay trong thời kỳ hôn nhân, nên Tòa án cấp sơ thẩm chia đôi nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ.

Xét, ông C1 kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có căn cứ để chấp nhận như đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Chí C1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Trương Chí C1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trương Chí C1;

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 116, Điều 119, Điều 385, Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trương Chí C1và bà Phạm Thị Hồng Nphải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Đặng Kim Csố tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. Cụ thể, mỗi người phải trả cho bà Csố tiền là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng, thanh toán một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trương Chí C2bà Phạm Thị Hồng Nmỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.000.000 (mười hai triệu) đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trương Chí C1 phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng, nhưng khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2023/0006892 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ