vanban.org

Bản án 270/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận Ông Vũ Hồng V và bà Trần Thị Ngọc L là quan hệ vợ chồng.

Về án phí: Ông V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006690 ngày 21/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. (ông V nộp đủ án phí) Về quyền kháng cáo: Án tuyên vắng mặt nguyên đơn, bị đơ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông V xin ly hôn với bà L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận Ông Vũ Hồng V và bà Trần Thị Ngọc L là quan hệ vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 270/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23/6/2022
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Việt Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Trường Huân;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 241/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 367/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Võ Hồng V, sinh năm: 1974; cư trú: Tổ 19, ấp A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Bà Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1974; cư trú: Tổ 19, ấp A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang.

(Ông V có đơn xin vắng mặt, bà L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Võ Hồng V trình bày: Ông và bà Trần Thị Ngọc L biết nhau do tự tìm hiểu, đến năm 1993 tôi và bà L về sống chung như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, ông và bà L chung sống hạnh phúc với nhau. Đến năm 2011 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Ông và bà L không còn sống chung với nhau từ năm 2011 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, gia đình hai bên không hàn gắn. Nay, ông yêu cầu ly hôn với bà L.

Về con chung: Ông và bà Trần Thị Ngọc L có 02 con chung tên: Võ Minh T, sinh ngày 31/8/1995 và Võ Như T, sinh ngày 23/12/1999. Hiện nay, hai con đã trưởng thành và tự lập nên ông không yêu cầu giải quyết.

Tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho bà L theo quy định nhưng bà L không có mặt theo các thông báo của Tòa án.

Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:

Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú của bà L thì xác định bà L vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, ông V vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Riêng bà L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

Quan điểm Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong việc ghi lời khai, hòa giải, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông V khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà L. Đồng thời, bà L cư trú trên địa bàn huyện A. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.

[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Ông V vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà L được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Năm 1993, ông V, bà L sống với nhau như vợ chồng nhưng đến nay không đăng ký kết hôn. Sau khi về chung sống ông V, bà L không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Việc trình bày của ông V phù hợp với giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn A ngày 27/4/2022 nên hôn nhân giữa ông V, bà L không được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử không công nhận ông V, bà L là vợ chồng.

[3] Về con chung: Ông V và bà L có 02 con chung Võ Minh T, sinh ngày 31/8/1995 và Võ Như T, sinh ngày 23/12/1999. Hiện 02 con chung đã trưởng thành và tự lập nên ông V không yêu cầu nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì ông V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Bà L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 9, Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Về hôn nhân: Không công nhận Ông Vũ Hồng V và bà Trần Thị Ngọc L là quan hệ vợ chồng.

Về án phí: Ông V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006690 ngày 21/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. (ông V nộp đủ án phí)

Về quyền kháng cáo: Án tuyên vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Ông V, bà L được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./

Cỡ chữ