- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Lữ Đ -134 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? 1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuy n bố bị cáo Trịnh Lữ Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 270/2019/HS-ST Ngày: 28-11-2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Châu Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Phạm Văn Lâm;
2/ Ông Võ Hùng Dương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hường – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 và 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 241/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
H và t n: Trịnh Lữ Đ, sinh năm 1986 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Thợ điện cơ; trình độ h c v n: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh T và bà Nguyễn Thị T; Vợ: Trần Thị Q (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/6/2019 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Ông Lai Quang P, sinh năm 1975; địa chỉ: X/Y đường H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trịnh Minh T, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
Người làm chứng: Trương Văn T1, Huỳnh Ng c A, Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Thị D. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Lữ Đ, Nguyễn Thành D (Hi n chưa xác định rõ lai lịch), anh Lai Quang P và anh Trương Văn T1 là bạn quen biết nhau.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/12/2018, Nguyễn Thành D rủ anh Lai Quang P và anh Trương Văn T1 đến dự tiệc sinh nhật của D tại quán TN, địa chỉ tại đường HVC, phường CM, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau khi ăn uống xong, đến khoảng 20 giờ cùng ngày, cả 03 ra về thì lúc này Trịnh Lữ Đ g i điện thoại rủ anh Trương Văn T1 và Nguyễn Thành D đến quán XYX, địa chỉ tại số khu X, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì anh T1 và anh D đồng ý, đồng thời anh T1 rủ anh P đi cùng nhưng anh P từ chối vì giữa anh P và Đ đang có vướng mắc về chuyện tiền bạc n n anh P không muốn gặp Đ. Sau đó, anh T1 và anh D tới quán XYX thì th y Trịnh Lữ Đ đang ngồi ăn uống với anh Huỳnh Ng c A n n vào ngồi ăn uống cùng bàn. Lúc này, anh D l y điện thoại g i cho anh P thì trong lúc nói chuyện, anh P nghe th y tiếng của Đ nói trong điện thoại của anh D với nội dung chửi anh P nên anh P tức giận n n điều khiển xe chở vợ là chị Nguyễn Thị D đi đến quán XYX để gặp Đ nói chuyện rõ ràng. Đến nơi, chị D đứng b n ngoài quán còn anh P đi đến chỗ Đ và nói: “Tôi sống sao mà anh đi đâu cũng nói x u tôi vậy, sao anh lớn mà đi đâu cũng nói x u tôi?”, Đ trả lời: “Tụi bay về đi, tao có nói gì đâu, ăn uống hết rồi có gì bữa sau nói chuyện”. Tuy nhiên, anh P không chịu đi về mà vẫn đứng nói chuyện lớn tiếng với Đ, đồng thời chị D nói: “Đồ ăn cháo đá bát, nuôi con cho ông m y tháng trời không l y đồng nào thì thôi, giờ mượn tiền không được thì nói x u người ta, l y oán báo ơn!”, lúc này giữa Đ và anh P xảy ra mâu thuẫn cự cãi với nhau thì chủ quán XYX là anh Nguyễn Hữu T2 th y vậy can ngăn không cho Đ và anh P gây sự trong quán đồng thời y u cầu hai bên đi ra ngoài để giải quyết mâu thuẫn. Vì vậy, anh P bỏ đi ra trước cửa quán và tiếp tục nói chuyện với lời lẽ thách thức khi u khích Đ: “Ông có ngon thì ra đây đánh nhau với tôi nè”, Đ liền cầm theo 01 vỏ chai bia Tiger bằng thủy tinh tr n bàn đi đến chỗ anh P thì cả 02 xảy ra xô xát, anh P cầm nón bảo hiểm đánh 01 (Một) cái trúng vào lưng Đ, Đ cầm vỏ chai bia Tiger đánh trả lại anh P thì anh T1 chạy ra ngăn cản nhưng không may bị Đ đánh trúng một cái vào vùng trán gây ra một vết thương tr n mí mắt trái của anh T1. Sau đó, anh T2 chạy ra ngoài đỡ anh T1 ngồi dậy, còn anh P và Đ tiếp tục giằng co kéo nhau vào trong quán XYX, lúc này anh D đứng dậy nói chuyện với Đ thì Đ nói: “Mày theo thằng P thì mày đi ra ngoài luôn đi”. Nghe xong, anh D rút sợi dây nịt đang đeo trong người đánh một cái trúng vào bàn tay trái của Đ khiến mặt nạ sợi dây nịt rơi xuống đ t. Sau đó, anh D bỏ chạy ra trước quán, anh P tiếp tục cầm nón bảo hiểm xông vào đánh Đ thì bị Đ dùng hai tay cầm hai vỏ chai bia Tiger bằng thủy tinh, đập bể phần thân chai và dùng phần đầu chai sắc nh n chém nhiều nhát vào mặt, cổ, vai của anh P gây ra nhiều vết thương tích cho anh P, đồng thời do tay cầm vỏ chai bia bị bể n n Đ tự gây ra một vết thương tích tr n bàn tay phải của Đ. Lúc này, Đ tự đi băng bó vết thương còn anh P và anh T1 được đưa đi c p cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương (Bút lục 56 – 63, 78 – 79, 88 – 97).
Ngày 27/12/2018, chị Nguyễn Thị D đến Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương trình báo sự việc và tố cáo hành vi của Trịnh Lữ Đ (Bút lục 38). Công an phường P đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 15/5/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ra Quyết định trưng cầu giám định số 341/QĐ, trưng cầu Trung tâm pháp y Bình Dương giám định tỷ lệ phần trăm thương tích và cơ chế hình thành vết thương của anh Lai Quang P.
Ngày 15/5/2019, Trung tâm pháp y Bình Dương có bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 197/2019/GĐPY kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây n n của anh Lai Quang P là 32%.
Cơ chế hình thành vết thương:
- Vết thương phức tạp má trái từ sau gáy đến cằm trái: Sẹo nằm ngang, chiều từ trái sang phải, hướng từ trước ra sau, bờ tương đối sắc g n.
- Vết thương má trái từ thái dương trái đến cành ngang xương hàm dưới trái: Chiều từ tr n xuống, hướng từ trái sang phải, bờ tương đối sắc g n.
- Vết thương cổ trái, chiều từ tr n xuống, hướng từ trái sang phải, bờ tương đối sắc g n.
- Vết thương ngực trái: Sẹo lồi, chiều nằm ngang, hướng từ trước ra sau, bờ tương đối sắc g n.
- Vết thương mặt trước vai trái: Chiều từ tr n xuống, hướng từ trước ra sau, bờ tương đối sắc g n.
- Các vết thương tr n khả năng do vật có cạnh sắc gây ra (Bút lục 11).
Anh Trương Văn T1 làm đơn từ chối giám định thương tích và đồng ý bãi nại cho Trịnh Lữ Đ, không y u cầu Đ bồi thường, cam kết không thắc mắc khiếu nại gì về sau (Bút lục 98).
Quá trình điều tra, Trịnh Lữ Đ khai nhận bị anh Lai Quang P dùng nón bảo hiểm đánh 01 cái trúng vào lưng và bị Nguyễn Thành D dùng sợi dây nịt đánh 01 cái trúng vào bàn tay trái nhưng đều không để lại thương tích gì n n từ chối giám định thương tích và không có y u cầu gì, cam kết không thắc mắc khiếu nại gì về sau. Ri ng một vết thương tr n bàn tay phải của Đ là Đ tự gây ra do tay cầm vỏ chai bia bị bể trong lúc đánh nhau với P n n Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một không đặt v n đề xem xét giải quyết.
Đối với hành vi gây rối trật tự công cộng do anh Lai Quang P thực hiện, ngày 15/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ ra Quyết định xử phạt hành chính số 248/QĐ-XPHC đối với hành vi của Lai Quang P với số tiền là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng (Bút lục 34).
Ri ng hành vi của đối tượng Nguyễn Thành D, do chưa rõ nhân thân lai lịch của Duy n n Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, xử lý sau.
Anh Lai Quang P y u cầu Trịnh Lữ Đ bồi thường chi phí viện phí, thuốc, khám bệnh số tiền 21.159.580 (Hai mươi mốt triệu, một trăm năm mươi chín ngàn, năm trăm tám mươi) đồng; Chi phí thu nhập ngày công lao động trong thời gian nghỉ điều trị số tiền 47.000.000 (Bốn mươi bảy triệu) đồng; Chi phí ngày công lao động cho người chăm sóc trong thời gian điều trị bệnh số tiền 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng; Chi phí tổn th t tinh thần số tiền 27.800.000 (Hai mươi bảy triệu, tám trăm ngàn) đồng; Chi phí ăn uống và chi phí đi lại trong thời gian điều trị bệnh số tiền 6.500.000 (Sáu triệu, năm trăm ngàn) đồng. Tổng số tiền là 114.449.580 (Một trăm mười bốn triệu, bốn trăm bốn mươi chín ngàn, năm trăm tám mươi) đồng (Bút lục 123, 124).
Ngày 25/7/2019, anh Trịnh Minh T (Em ruột của Trinh Lữ Đ) đã thay mặt cho dùng tiền cá nhân của Đ để bồi thường số tiền là 114.449.580 (Một trăm mười bốn triệu, bốn trăm bốn mươi chín nghìn, năm trăm tám mươi) đồng theo y u cầu của anh Lai Quang P. Anh P đã nhận đủ số tiền tr n, đồng thời làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho Trịnh Lữ Đ, không có y u cầu gì th m, cam kết không thắc mắc khiếu nại gì về sau (Bút lục 125, 126, 127).
Cáo trạng số 254/CT-VKS ngày 24/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Trịnh Lữ Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phi n tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguy n quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
Về biện pháp tư pháp: Không có.
Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với Viện Kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát vi n trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phi n tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phi n tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bi n bản hỏi cung bị can, lời khai của bị hại cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 23/12/2018, tại quán XYX địa chỉ khu X, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, do mẫu thuẫn nảy sinh từ việc vay mượn tiền giữa Trịnh Lữ Đ và Lai Quang P dẫn đến hai b n xảy ra xô xát. Trịnh Lữ Đ đã dùng hung khí nguy hiểm là vỏ chai bia thủy tinh bị bể chém nhiều cái vào mặt, cổ và vai của P gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 32%. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố c u thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như tr n là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền b t khả xâm phạm về sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây m t trật tự trị an nơi bị cáo gây án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính hung hăng, xem thường sức khỏe của bị hại n n đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, đối với bị cáo cần có mức hình phạt tương xứng với tính ch t, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời cũng nhằm phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại cũng có một phần lỗi, bị hại đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là nặng so với tính ch t, mức độ hành vi của bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trước khi sự việc xảy ra, bị hại đã có những lời lẽ chửi bới, khi u khích, kích động bị cáo đánh nhau và dùng nón bảo hiểm đánh bị cáo, do đó, bị hại có một phần lỗi. Ngày 15/10/2019, bị hại đã bị Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 248/QĐ-XPHC với số tiền 200.000 đồng đối với hành vi gây m t trật tự tại quán XYX ngày 23/12/2018. Hiện nay, bị cáo còn phải nuôi con nhỏ (sinh năm 2013) do vợ chồng đã ly hôn và giao con chung cho bị cáo nuôi dưỡng và đây là lần đầu ti n bị cáo vi phạm pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt th p hơn quy định của điều luật nhằm tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập xã hội, chăm lo cho gia đình và cải tạo thành công dân tốt.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường và không y u cầu gì thêm, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Không có.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ tr n,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 106, 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuy n bố bị cáo Trịnh Lữ Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2/ Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trịnh Lữ Đ 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 25/6/2019.
3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
4/ Về biện pháp T pháp: Không có.
5/ Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan vắng mặt tại phi n tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được ni m yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương (PV06); - Sở T pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THA thành phố Thủ Dầu Một; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, Tòa. | TM. HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Châu Giang |