vanban.org

Bản án 270/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Kim Y.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Kim Y và ông Bùi Thanh V. Về con chung: Cháu Bùi Đức T, sinh ngày 24/4/1996 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết. Giao cháu Bùi Lê Thúy K, sinh ngày 03/5/2003 cho ông Bùi Thanh V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời bà Y không phải cấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị Kim Y xin ly hôn ông Bùi Thanh V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Kim Y.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:270/2018/HNGĐ-ST
Ngày:24-8-2018.
V/v:“Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Loan Trần Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Thế Cần –Bí thư đoàn phường Thống Nhất.

2. Bà Thiều Thị Phi Loan – Nguyên Hội phó Hội liên hiệp phụ nữ thành phố B.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

-Đại diện Kện kiểm sát nhân dân thành phố Btham gia phiên tòa:Bà Đặng Thị Thanh Tâm– Kiểm sát viên.

Ngày24 tháng8năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Naixét xử sơ thẩm công khaivụ án dân sự thụ lý số:281/2018/TLST-HNGĐ ngày24tháng01năm2018về việc “Tranh chấp ly hôn”theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:273/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày12tháng7năm 2018và Quyết định hoãn phiên tòa số: 523/2018/QĐST-HNGĐ ngày 03/8/2018,giữa:

1. Nguyên đơn:Bà Lê Thị Kim Y, sinh năm 1976.

Địa chỉ: 25/5F, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn:Ông Bùi Thanh V, sinh năm 1975.

Địa chỉ: 25/5F, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà Y có mặt, ông V vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/01/2018, tại bản tự khai và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Lê Thị Kim Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Bùi Thanh V kết hôn năm 1995có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố B, hôn nhân tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn trong vấn đề tình cảm và bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên bà làm đơn xin được ly hôn với ông V.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Bùi Đức T, sinh ngày 24/4/1996 và cháu Bùi Lê Thúy K, sinh ngày 03/5/2003. Khi ly hôn cháu T đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa giải quyết. Bà đồng ý để ông V được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và tạm thời bà không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông V nhưng ông V vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

Ý kiến đại diện Kện kiểm sát nhân dân thành phố B:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơnkể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Bị đơn thực hiện không đúng.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của bà Y. Về con chung: Giao cháu Thúy K cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời bà Y không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu. Bà Y phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Bùi Thanh V theo quy định của pháp luật, nhưng ông Bùi Thanh V vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim Y và ông Bùi Thanh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 91 ngày 12/12/1995 nên áp dụng Điều 5, Điều 6, Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Y, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo như bà Y trình bày thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn trong vấn đề tình cảm và bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên bà làm đơn xin được ly hôn với ông V. Hiện bà đã dọn ra ngoài thuê nhà trọ ở. Tại phiên Tòa bà vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông V, Tòa án cũng đã tiến hành triệu tập ông V đến Tòa để hòa giải đoàn tụ nhưng ông V không đến, cho thấy ông V không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này. Mặt khác, theo biên bản xác minh với ông Bùi Văn X là bố ruột ông V cho biết vợ chồng ông V và bà Y thường xuyên có mâu thuẫn, lý do là do ông V hay ăn nhậu nên làm ảnh hưởng đến cuộc sống vợ chồng, bà Y đã bỏ ra thuê nhà trọ sống từ khoảng đầu năm 2018 đến nay. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Y và ông V đã thật sự trầm trọng, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ nên việc bà Y xin ly hôn với ông V là có cơ sở chấp nhận.Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Y, cho ly hôn giữa bà Lê Thị Kim Y và ông Bùi Thanh V.

Về con chung: Bà Y và ông V có 02 con chung là cháu Bùi Đức T, sinh ngày 24/4/1996 và cháu Bùi Lê Thúy K, sinh ngày 03/5/2003. Khi ly hôn cháu T đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa giải quyết. Bà đồng ý để ông V được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và tạm thời bà không cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy cháu Bùi Lê Thúy K có nguyện vọng được ở với ông Bùi Thanh V, bà Y cũng đồng ý và hiện nay cháu K cũng đang do ông V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.Do đó để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu K nên giao cháu K cho ông V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng để tạo điều kiện ổn định phát triển về mọi mặt cho cháu K. Tạm thời bà Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Theo bà Y trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bị đơn vắng mặt chưa có lời khai về tài sản chung, nên không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Về nợ chung: Theo bà Y trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bị đơn vắng mặt chưa có lời khai về tài sản chung, nên không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Bà Y phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố B tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 5, Điều 6, Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Kim Y.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Kim Y và ông Bùi Thanh V.

Về con chung: Cháu Bùi Đức T, sinh ngày 24/4/1996 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết. Giao cháu Bùi Lê Thúy K, sinh ngày 03/5/2003 cho ông Bùi Thanh V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời bà Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì không trực tiếp nuôi con nên bà Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, về nợ chung: Tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Bà Lê Thị Kim Y phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 006213 ngày 19/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Bà Y đã nộp đủ án phí.

Các đương sựcó quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Bùi Thanh V vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ