vanban.org

Bản án 27

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lại Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lại Thanh L mức án 01 năm 03 tháng tù (Một năm ba tháng tù). Thời gian tù tính t bị cáo chấp hành hình phạt. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lại Thanh L trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lại Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SA ĐÉC
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án s : 27/2022/HS-ST
Ngày: 19-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thiện Đào Duyên và bà Nguyễn Thanh Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Th ký Tòa án nhân dân thành ph a Đ c, tỉnh Đồng Tháp.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân thành ph a Đéc tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Trần Ái Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành ph a Đ c, tỉnh Đồng Tháp x t xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s 26/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đ a vụ án ra x t xử s 26/2022/QĐXX T-HS ngày 08 tháng 8 năm 2022 đ i với bị cáo:

Họ và tên: Lại Thanh L, sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Tháp

Nơi c trú: Ấp Q, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

Nghề nghiệp: làm thuê;

Trình độ học vấn: 4/12

Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam

Con ông: Lại Văn H (chết) và bà Phan Thị Minh T, sinh năm 1966

Vợ, con: ch a có

Tiền sự: không

Tiền án: có 01 tiền án

+ Ngày 20/11/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã a Đ c (nay là thành ph a Đ c) xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/9/2014, thi hành xong án phí ngày 04/3/2014.

+ Ngày 06/03/2015 bị Tòa án nhân dân thành ph a Đ c, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 03/02/2016, thi hành xong án phí dân sự sơ thẩm ngày 07/9/2015, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 09/9/2015 (trị giá tài sản chiếm đoạt 1.135.000 đồng, tiền án cấu thành tội phạm).

+ Ngày 27/9/2016 bị Tòa án nhân dân thành ph a Đ c, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 05/02/2018, thi hành xong án phí ngày 21/11/2016 (trị giá tài sản chiếm đoạt 510.000 đồng, tiền án cấu thành tội phạm).

+ Ngày 23/10/2019 bị Tòa án nhân dân thành ph a Đ c, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản chiếm đoạt 278.400 đồng, tiền án cấu thành tội phạm); Ngày 26/11/2019 bị Tòa án nhân dân thành ph a Đ c xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản chiếm đoạt 1.500.000 đồng, tiền án cấu thành tội phạm), tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 02 năm 09 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/4/2022.

Tạm giữ, tạm giam: không

Hiện bị cáo tại ngoại; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi c trú.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị h i:

Chị Võ Ngọc D1, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Nơi c trú: Ấp M, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 26/05/2022, Lại Thanh L m ợn xe mô tô (không rõ biển s ) của một ng ời bạn tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) đến tiệm tạp hóa V tọa lạc ấp N, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp do chị Võ Ngọc D1 làm chủ.

L vào tiệm hỏi mua thẻ cào điện thoại di động, do hết thẻ cào nên L hỏi mua tiếp một gói thu c lá nhãn hiệu ài Gòn. au khi nhận gói thu c và trả tiền xong, L đi ra xe về thì phát hiện điện thoại di động nhãn hiệu TECNOPOVA, màu xanh của chị D1 để trên thùng bia, L dùng tay lấy điện thoại di động bỏ vào túi áo khoác đang mặc, rồi nhanh chóng ra xe tẩu thoát. Khi về đến nhà, L trả lại xe mô tô cho T1.

Đ i với điện thoại di động lấy đ ợc, L tháo sim ra và lắp vào sim điện thoại s 0706.526.383 để sử dụng.

au khi phát hiện bị mất điện thoại, chị D1 xem lại camera gia đình thì phát hiện L lấy điện thoại nên đến Công an xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp trình báo sự việc.

Quá trình điều tra, cơ quan Công an đã trích xuất camera tại nhà chị D1 l u vào 01 U B làm căn cứ giải quyết vụ án.

Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ điện thoại di động hiệu TECNO POVA, sim điện thoại s 0939998902 do L chiếm đoạt của chị D1 và 01 sim điện thoại s 0706526383 của L.

Tại bản kết luận định giá tài sản s 13/HĐ.ĐGT , ngày 07/06/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong t tụng hình sự thành ph a Đ c kết luận:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu TECNOPOVA màu xanh có trị giá 2.500.000 đồng;

- 01 sim s 0939998902, có trị giá 120.000 đồng.

Tổng tài sản có trị giá: 2.620.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành ph a Đ c đã trao trả điện thoại di động hiệu TECNOPOVA màu xanh và 01 sim điện thoại s 0939998902 cho chị D1 và 01 sim điện thoại s 0706526383 trao trả cho L. Chị D1 đã nhận lại tài sản xong và không có yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng s 26/CT-VKSTP Đ ngày 05/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành ph a Đ c đã truy t bị cáo Lại Thanh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph a Đ c trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy t và đề nghị:

p dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lại Thanh L về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án t 01 năm t đến 01 năm 06 tháng t .

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định nh sau:

Về thủ tục t tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục t tụng của Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t , điều tra, truy t . Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những ng ời tham gia t tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan t tụng và ng ời tiến hành t tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập đ ợc trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản và kết luận định giá tài sản s 13/HĐ.ĐGT , ngày 07/06/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong t tụng hình sự thành ph a Đ c và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đ ợc có trong hồ sơ vụ án.

Qua đó đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 19 giờ ngày 26/5/2022, tại tiệm tạp hóa V tọa lạc ấp N, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp, Lại Thanh L đã thực hiện hành vi l n lút chiếm đoạt điện thoại di động hiệu TECNOPOVA màu xanh có sim s 0939998902, tổng trị giá tài sản là 2.620.000 đồng nhằm mục đích vụ lợi cá nhân.

Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của ng ời khác. Bị cáo là ng ời đã thành niên nên bị cáo nhận thức đ ợc quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân đ ợc pháp luật bảo vệ. Hành vi xâm phạm trái pháp luật tài sản của ng ời khác, dù bằng hình thức nào, đều vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý. Thế nh ng, do bản tính tham lam, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản nên bị cáo đã l n lút chiếm đoạt tài sản của bị hại.

Bị cáo phạm tội với l i c ý, động cơ mục đích t lợi cá nhân. Thủ đoạn thực hiện tội phạm của bị cáo táo bạo, liều lĩnh: thời điểm phạm tội là vào buổi t i, nh ng địa điểm phạm tội là tại tiệm tạp hóa V tọa lạc ấp N, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp, th ờng xuyên có khách ra vào mua bán hàng hóa, bên trong tiệm tạp hóa có gắn camera, nếu chiếm đoạt tài sản sẽ dễ bị phát hiện và bị bắt, nh ng bị cáo không sợ sệt, không sợ bị phát hiện. Với bản tính tham lam, xem th ờng pháp luật, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản nên bị cáo đã l n lút chiếm đoạt rồi nhanh chóng tẩu thoát.

Bị cáo là ng ời có tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, tuy nhiên bị cáo đã nhiều lần bị x t xử cùng về tội “Trộm cắp tài sản” đến nay còn tiền án. Nếu biết ăn năn h i cải thì bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, c gắng lao động, làm ăn chân chính để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu bản thân và phụ giúp gia đình. Thế nh ng với bản tính tham lam, xem th ờng pháp luật, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/4/2022, trong thời gian ngắn thì bị cáo tiếp tục thực hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị D1 với tổng trị giá 2.620.000 đồng để rồi một lần nữa đi vào con đ ờng phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc tr ờng hợp tái phạm.

T những phân tích trên cho thấy, hành vi của bị cáo là đủ yếu t cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị ph t cải t o không giam giữ đến 03 năm hoặc bị ph t tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a) …………..”

X t thấy, hành vi phạm tội của bị cáo tuy thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng, nh ng hành vi của bị cáo là táo bạo liều lĩnh, thể hiện sự xem th ờng pháp luật. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. X t thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng ng ời, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng x t xử x t thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành ng ời công dân t t, có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tài sản của ng ời khác, nhằm răn đe và phòng ng a chung.

V t nh ti t tăng nặng: Bị cáo L 05 lần bị x t xử về tội “Trộm cắp tài sản”, tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu giá trị tài sản trên 2.000.000đ, còn các lần sau bị cáo phạm tội s tiền chiếm đoạt ch a đủ 2.000.000 đồng nên áp dụng tiền án tr ớc đó để x t xử đ i với bị cáo, theo quy định thì lần phạm tội này của bị cáo thuộc tr ờng hợp tái phạm, vì vậy cần áp dụng Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự để xem x t trong việc l ợng hình đ i với bị cáo.

V t nh ti t giảm nhẹ: X t thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải, tài sản bị chiếm đoạt đã đ ợc thu hồi và hoàn trả cho bị hại nhận xong, vì vậy cần áp dụng Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem x t giảm nhẹ một phần mức hình phạt đ i với bị cáo.

V trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

V xử lý vật chứng: Đ i với 01 USB có l u giữ đoạn camera ghi lại hình ảnh L thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại của chị D1 cần tiếp tục quản lý để l u hồ sơ vụ án.

V án phí: Bị cáo Lại Thanh L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra L khai ng ời thanh niên tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) cho L m ợn xe mô tô nh ng T1 không biết L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, nên không xem xét xử lý đ i với T1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Lại Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lại Thanh L mức án 01 năm 03 tháng tù (Một năm ba tháng tù). Thời gian tù tính t bị cáo chấp hành hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng:

Tiếp tục quản lý 01 U B có l u giữ đoạn camera ghi lại hình ảnh L thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại của chị D1 để l u hồ sơ vụ án.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016

Bị cáo Lại Thanh L nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể t ngày hôm nay tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Riêng bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận đ ợc bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ