vanban.org

Bản án 27

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nông Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt: Nông Văn T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2022 Về án phí: Nông Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nông Văn T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nông Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2023/HSST
Ngày: 21 / 03 / 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nghiêm Hoài Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan, bà Ngô Thị Như Hoa.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Việt Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2023 T trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2023/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2023 đối với:

Bị cáo Nông Văn T; giới tính: Nam; sinh năm 1997 Tại Lào Cai;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Bản Pác Bó, xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; trình độ văn hoá: 0/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nông Thị Chân, sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 tiền sự, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 14/QĐ-TA ngày 10/3/2020 của TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. (Chấp hành xong ngày 26/12/2020)

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2022 đến nay T Nhà tạm giữ Công an thành phố Hòa Bình, được trích xuất có mặt T phiên tòa

Những người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Anh Trần Văn M, sinh năm 1979

Địa chỉ: Xã Đào Xá, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

- Người bào chữa cho bị cáo:

Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, sinh năm 1976

Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến T phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10 năm 2022, Nông Văn T đến làm thợ xây T công trình xây dựng thuộc tổ 3, phường Quỳnh Lâm, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình và ở lại lán của công trình. Cùng ở T lán có anh Trần Văn M, sinh năm 1979 (trú T: Xã Đào Xá, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ).

Sáng ngày 19/10/2022, do ốm mệt nên Nông Văn T xin nghỉ làm và ngủ ở lán. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, khi ngủ dậy, T quan sát không thấy có ai ở lán và thấy ở đầu giường ngủ của anh M có treo 01 túi vải màu đen. Qúa trình ở cùng nhau, T biết anh M cất tài sản trong chiếc túi nêu trên. Do cần tiền đi Hà Nội nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của anh M. T đi đến vị trí anh M treo chiếc túi, dùng tay mở khóa túi và lấy trộm được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu trắng; 01 đồng hồ đeo tay mặt kim loại màu vàng, không rõ nhãn hiệu và 01 tai nghe không dây màu đen không rõ nhãn hiệu. Sau khi trộm được tài sản, T đi bộ lên Quốc lộ 6 đón xe taxi đi Hà Nội. Do không có tiền mặt, T cầm cố chiếc điện thoại trên cho lái xe taxi để bù vào số tiền xe là 800.000đ. Khi xuống đến Hà Nội, T thuê nhà trọ T khu vực Đình Thôn, thuộc phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội để chung sống với một người phụ nữ tên Hoàng Thị Phương (SN 1996, quê quán: Sơn La). T phòng trọ, Nông Văn T cất giấu các tài sản trộm cắp được còn lại gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS max, màu trắng; 01 đồng hồ đeo tay mặt kim loại màu vàng và 01 tai nghe không dây màu đen trong ba lô của T.

Ngày 06/11/2022, anh Trần Văn M đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hòa Bình trình báo về sự việc nêu trên. Ngày 07/11/2022, Nông Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hòa Bình xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân.

T Bản kết luận định giá tài sản số 341/KL-HĐĐGTS ngày 11/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hòa Bình, kết luận: "01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng, dung lượng 32 Gb, số IMEI: 355682071858480, tình trạng đã qua sử dụng trị giá 1.300.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu trắng, dung lượng 256 Gb tình trạng đã qua sử dụng trị giá 8.500.000 đồng; 01 tai nghe không dây, màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng và 01 chiếc đồng hồ đeo tay, mặt kim loại màu vàng, dây đeo bằng da màu mâu, không rõ nhãn hiệu, tình trạng đã qua sử dụng không xác định được giá trị tài sản do không có tài sản, không rõ nhãn hiệu. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 9.800.000 đồng".

Cáo trạng số 20/CT-CKS ngày 20/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố bị cáo Nông Văn T tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định T khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

T phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điều i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn T từ … đến … tháng tù. Chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành trả lại cho chủ sở hữu, do đó không đề cập giải quyết.

Trợ giúp viên pháp lý có ý kiến bào chữa cho bị cáo …..

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận T phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và T phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi mà bị cáo đã thực hiện:

T phiên toà, Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của Bị cáo phù hợp với lời khai trong hồ sơ, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có đủ cơ sở xác định: Khoảng 08 giờ ngày 19/10/2022, Nông Văn T đã có hành vi trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản là 9.800.000 (chín triệu tám trăm nghìn) đồng.

Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do coi thường pháp luật, muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi.

Hành vi của bị cáo thỏa mãn dấu hiệu của tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân người phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo T địa phương. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định T điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự được áp dụng khi quyết định hình phạt.

Bị cáo có 01 tiền sự, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 14/QĐ-TA ngày 10/3/2020 của TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. (Chấp hành xong ngày 26/12/2020)

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần có mức hình phạt tù thỏa đáng, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Trần Văn M không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) tiền chuộc điện thoại Iphone 6S và không yêu cầu bồi thường đối với các tài sản khác bị Nông Văn T trộm cắp, do đó không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone nhãn hiệu XS max, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 tai nghe không dây màu đen, đã qua sử dụng và 01 đồng hồ mặt kim loại màu vàng, đã qua sử dụng. Qúa trình điều tra chưa thu giữ được, do đó không đề cập giải quyết.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone nhãn hiệu 6S, màu vàng, đã qua sử dụng, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, do đó không đề cập giải quyết.

Đối với người lái taxi chở bị cáo T và người phụ nữ tên Hoàng Thị Phương ở trọ với Nông Văn T, quá trình điều tra chưa đủ cơ sở để xác định nhân thân, lai lịch của hai người này nên không đề cập giải quyết trong vụ án này

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Nông Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Xử phạt: Nông Văn T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2022

3. Về án phí: Nông Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ