- Tranh chấp gì? "Dương Đức T "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người bị hại, sửa b n án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự
| T A ÁN NH N D N T NH L M Đ NG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án s : 27/2018/HS-PT Ngày: 15-5-2018 |
NHÂN DANH
N C C NG H A XÃ H CHỦ NGH A V T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH L M Đ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Minh Hương
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Kim Đồng
Ông Nguyễn Văn Phúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 19/2018/TLPT-HS ngày 02/02/2018 đ i với các bị cáo Dương Đức T; do kháng cáo của bị cáo đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 61/2017/HS-ST ngày 27/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Dương Đức T, sinh năm 1966 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: s 341/15 Nguyễn Trung T, phường 1, quận T, Thành ph Hồ Chí Minh; chỗ ở: s A, đường 1 tháng 5, phường B, thành ph B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Qu c tịch: Việt Nam; con ông Dương Thanh H và bà Lê Thị B (đều đã chết); vợ Nguyễn Thị Như T và có 02 con, lớn nhất sinh 1999, nhỏ nhất sinh 2009; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/9/2017, đến ngày 27/11/2017 được Viện kiểm sát nhân dân huyện D thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1988. Nơi cư trú: s 38 đường Hoàng Hoa Thám, thị trấn Di Linh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Trong vụ án có bị hại là anh Hoàng Văn N, chị Phạm Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Như T không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị.
N DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn N và Dương Đức T quen biết nhau từ năm 2007. Đến cu i tháng 6/2017 Hoàng Văn N kể cho Dương Đức T nghe về việc N tham gia vụ gây r i trật tự công cộng tại thôn 5, xã T, huyện Di, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 13/6/2017 và đang bị cơ quan công an truy tìm. Dương Đức T n y sinh ý định lừa đ o chiếm đoạt tài s n của N nên T nói d i N là T có m i quen biết rộng, có thể giúp cho N không bị bắt, không bị xử tù. Hoàng Văn N tin T nói thật nên dẫn vợ là Phạm Thị H đến gặp T tại thành ph B, tỉnh Đ. T tiếp tục nói là có thể giúp được N nhưng ph i có tiền để chi cho những người giúp N. H tin tưởng và giao cho T s tiền 70.000.000 đồng. Đến ngày 28/6/2017, H tiếp tục nộp vào tài kho n ngân hàng Sacombank s tài kho n 060001894113 của T s tiền 30.000.000 đồng.
Ngày 02/7/2017, Hoàng Văn N bị Cơ quan c nh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng bắt tạm giam về tội “Gây r i trật tự công cộng”. H nói cho T biết N đã bị bắt, T nói cần thêm tiền làm chi phí để lo cho N được nhẹ tội. H tin những lời T nói là thật nên tiếp tục gặp trực tiếp T để đưa thêm tiền hai lần, cụ thể: một lần H gặp, đưa cho T 30.000.000 đồng tại thành ph Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và một lần H gặp, đưa cho T 10.000.000 đồng tại quán cà phê Tâm Châu thuộc thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Ngoài ra, Phạm Thị H còn nhiều lần gửi tiền vào s tài kho n 060001894113 của T như sau:
- Ngày 04/7/2017 H gửi vào tài kho n cho T 40.000.000 đồng;
- Ngày 12/7/2017 H gửi vào tài kho n cho T 30.000.000 đồng;
- Ngày 07/8/2017 H gửi vào tài kho n cho T 10.000.000 đồng;
- Ngày 24/8/2017 H gửi vào tài kho n cho T 50.000.000 đồng;
- Ngày 30/8/2017 H gửi vào tài kho n cho T 30.000.000 đồng.
Như vậy, tổng cộng s tiền T chiếm đoạt của Hoàng Văn N và Phạm Thị H là 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng). Toàn bộ s tiền chiếm đoạt được, T không sử dụng giúp cho N như đã hứa mà tiêu xài cá nhân hết.
Tại Cơ quan c nh sát điều tra, Dương Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, Cơ quan c nh sát điều tra Công an huyện D đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S gắn sim liên lạc s 0983912389; 01 thẻ ATM ngân hàng Sacombank, s thẻ 4221518208720694.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường s tiền 300.000.000 đồng cho người bị hại Phạm Thị H. Chị H đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại b n cáo trạng s 63/CTr-VKS ngày 29/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D đã truy t bị cáo Dương Đức T về tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n” theo điểm a kho n 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999.
B n án s 61/2017/HSST ngày 27/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện D tuyên b bị cáo Dương Đức T phạm tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n”.
Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 139; điểm b, p kho n 1, kho n 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Dương Đức T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Được trừ đi thời gian đã tạm giam từ ngày 01/9/2017 đến ngày 27/11/2017 là 2 tháng 26 ngày, bị cáo còn ph i chấp hành 33 tháng 4 ngày tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
B n án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 08/01/2018 bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên kháng cáo và trình bày: khi chị H đặt vấn đề nhờ tìm người giúp đỡ cho chồng chị H, bị cáo nhận lời và nghĩ sẽ nhờ luật sư, bị cáo đã đến gặp luật sư Vũ Văn B để nhờ luật sư B giúp đỡ nhưng luật sư chưa nhận lời. Tuy nhiên s tiền chị H đưa và chuyển vào tài kho n là do chị H tự nguyện đưa, bị cáo không yêu cầu s tiền cụ thể, khi nhận tiền của chi H thì đang là thời điểm sửa quán nên bị cáo lấy tiền của chị H đưa thì bị cáo sử dụng vào việc sửa quán. Tổng s tiền chị H chuyển vào tài kho n trong đó có kho n tiền 30.000.000đ chuyển vào ngày 30/8/2017 bị cáo không biết vì lúc đó bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 28/8/2017, sau đó chuyển sang tạm giam từ ngày 01/9/2017.
Chị Phạm Thị H trình bày toàn bộ s tiền là do chị tự đưa và tự chuyển, bị cáo không nói ph i đưa bao nhiêu, chị đưa với mục đích để bị cáo giúp chồng chị vì chồng chị vi phạm pháp luật. Ngày 30/8/2017 chị chuyển s tiền 30.000.000đ vào tài kho n của bị cáo, lúc đó chị chưa biết bị cáo đã bị bắt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng rút một phần s tiền truy t bị cáo từ 300.000.000đ xu ng còn 270.000.000đ và đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, giữ nguyên mức hình phạt cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong kho ng thời gian tháng 6, tháng 7 năm 2017, lợi dụng việc anh N vi phạm pháp luật cần người giúp đỡ, bị cáo Dương Đức T bằng thủ đoạn gian d i nói là có thể giúp cho N không bị bắt, không bị xử tù làm cho vợ chồng chị H tin nên chị H đã đưa tiền cho bị cáo nhiều lần với s tiền 300.000.000đ. Tuy nhiên riêng s tiền 30.000.000đ chị H chuyển vào tài kho n của bị cáo vào ngày 30/8/2017 thì tại thời điểm này bị cáo đã bị tạm giữ hành chính, sau đó bị tạm giam luôn, bị cáo không biết được chị H chuyển s tiền này và s tiền này vẫn còn nằm trong tài kho n của bị cáo nhưng cấp sơ thẩm kết bị cáo chiếm đoạt c s tiền này là không có căn cứ. Như vậy, bị cáo chỉ chiếm đoạt của chị H 270.000.000đ, tuy nhiên với s tiền này thì bị cáo vẫn bị xét xử theo điểm a kho n 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo:
Việc chị H đưa tiền và chuyển tiền vào tài kho n của bị cáo là do chị H tự chuyển, bị cáo không yêu cầu chị H ph i đưa s tiền cụ thể là bao nhiêu, b n thân bị cáo khai báo thành khẩn, đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ cho người bị hại, tại phiên tòa phúc thẩm người bị hại xin gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được c i tạo ở ngoài. Bị cáo được áp dụng các tình tiết gi m nhẹ theo điểm p, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân t t, có địa chỉ cư trú rõ ràng, việc cho bị cáo được hưởng án treo không nh hưởng đến việc đấu tranh phòng ch ng tội phạm. Do vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo được tự c i tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, để bị cáo có cơ hội làm việc để tr nợ s tiền vợ bị cáo đã vay mượn để tr cho người bị hại.
[4] Về án phí: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b kho n 1 Điều 355; điểm e kho n 1 Điều 357 Bộ luật T tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người bị hại, sửa b n án sơ thẩm.
Căn cứ điểm a kho n 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên b bị cáo Dương Đức T phạm tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n”.
Xử phạt bị cáo Dương Đức T 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, thành ph B, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm ph i hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo c ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó ph i chấp hành hình phạt tù của b n án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật T tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Dương Đức T không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - TAND huyện Di Linh; - VKSND huyện Di Linh; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Di Linh; - Chị cục THSDS huyện Di Linh; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Phòng KTNV; - Bị cáo; Bị hại (để thi hành) - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH V ÊN H Đ NG XÉT XỬ Nguyễn Kim Đồng - Nguyễn Văn Phúc | TM. H I Đ NG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hoàng Thị Minh Hương THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PH ÊN T A Hoàng Thị Minh Hương |