vanban.org

Bản án 27/HNST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Diệp Văn N. Cho anh Diệp Văn N được ly hôn với chị Lưu Thị X.

Về quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, thăm nom con và thay đổi nuôi con chung: Về quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con: Giao cho anh Diệp Văn N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là cháu Diệp Tùng B, sinh ngày 15/9/2012 và cháu Diệp Ngọc D, sinh ngày 21/11/2014… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Diệp Văn N. Cho anh Diệp Văn N được ly hôn với chị Lưu Thị X.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 6 - 2022
V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Yên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Thanh Hải.

2. Bà Nguyễn Thị Phương Thuý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2022 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2022/QĐXX-ST ngày 17 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Diệp Văn N sinh năm 1987.

Nơi đăng ký HKTT: Xóm T, xã T.L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)

2. Bị đơn: Chị Lưu Thị X, sinh năm 1991.

Nơi đăng ký HKTT: Xóm T, xã T.L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Hiện đang lao động xuất khẩu tại Nhật Bản. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Diệp Văn N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lưu Thị X được tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T.L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam vào tháng 11 năm 2011. Anh chị có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương.

Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ, hòa thuận với bố mẹ anh N tại xóm T, xã T.L. Đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên tranh cãi. Đến cuối năm 2017 chị X bỏ về nhà ngoại ở, sau đó chị X tự ý đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài. Vợ chồng sống ly thân và không quan tâm nhau từ đó cho đến nay. Về địa chỉ hiện nay (ở nước ngoài) của chị X, anh xác định chị X không cho anh biết và cả gia đình nhà chị X cũng đều không biết. Từ khi chị X sang Nhật Bản, chị cũng không hề liên lạc gì với anh nên anh không có địa chỉ cụ thể của chị X ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Hiện nay vợ chồng không có sự liên lạc và quan tâm đến nhau. Chị X cũng không có trách nhiệm gì với gia đình, bỏ mặc chồng, con. Anh xác định tình cảm giữa vợ chồng đã không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị X.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung. Con lớn là Diệp Tùng B, sinh ngày 15/9/2012 và cháu nhỏ là Diệp Ngọc D, sinh ngày 21/11/2014. Hiện hai con đang ở cùng anh Ntại xóm T, xã T.L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Khi ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu chị X phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung, nếu chị X tự nguyện cấp dưỡng thì giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 18/5/2022 và ngày 30/5/2022 giữa Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên với ông Lưu Văn M, sinh năm 1966; Địa chỉ: Xóm T, xã T.L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là bố đẻ của chị Lưu Thị X, xác định được: Sau khi nhận các văn bản của Toà án, ông có thông tin cho chị X được biết việc anh N đang yêu cầu xin ly hôn với chị thì chị X có gọi điện về trực tiếp trao đổi lại: “Chị xác định vợ chồng có mâu thuẫn, từ tháng 6 năm 2017 vợ chồng tranh cãi nên chị X bỏ về nhà ngoại ở, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Hiện nay vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm đến nhau anh N xin ly hôn chị hoàn toàn nhất trí. Về con chung: Có 02 con chung như anh N đã khai là đúng. Hiện cả hai con đang ở cùng anh N do chị X đang ở nước ngoài nên chị cũng nhất trí để anh N được nuôi cả hai con. Sau này chị về nước chị sẽ thỏa thuận lại với anh N về việc nuôi con để đảm bảm điều kiện tốt nhất cho con. Về cấp dưỡng chị X đề nghị được tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: Chị không đề nghị giải quyết. Hiện chị đang ở nước ngoài không về nước để giải quyết vụ án được nên chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật”.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng:

- Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo quy định của BLTTDS: Tiếp nhận đơn, thông báo nộp tạm ứng án phí, thông báo thụ lý vụ án và tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định của BLTTDS.

- Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật

Đề xuất quan điểm giải quyết vụ án: - Đủ điều kiện đưa ra xét xử theo trình tự tố tụng dân sự sơ thẩm.

- Căn cứ các Điều 28, 37, 147 của BLTTDS; các Điều 55, 56, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Diệp Văn N, cho anh N được ly hôn với chị X. Về con chung: Anh chị có hai con chung là cháu: Diệp Tùng B, sinh ngày 15/9/2012 và Diệp Ngọc D, sinh ngày 21/11/2014. Để đảm bảo việc nuôi dưỡng và giáo dục con, nên cần giao con cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở; hai con cũng có đơn yêu cầu được bố trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn góp phí tổn nuôi con chung do anh N không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Án phí: Anh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại Công văn số 4870/QLXNC-P5 ngày 10/3/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an xác định công dân Lưu Thị X, sinh ngày 10/04/1991 có thông tin xuất cảnh ngày 10/10/2019 qua cửa khẩu nội bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Hội đồng xét xử xác định, đây là vụ án yêu cầu ly hôn có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, theo quy định tại Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn anh Diệp Văn N chỉ cung cấp được địa chỉ cư trú cuối cùng của chị X ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ của chị X ở nước ngoài. Quá trình giải quyết vụ án, thông qua đại diện thân nhân của chị X là ông Lưu Văn M, có đủ căn cứ xác định chị X vẫn liên hệ với ông nhưng ông cũng không cung cấp được địa chỉ của chị X và chị X cũng không có lời khai bằng văn bản gửi về cho Toà án. Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng ông M cũng vẫn không cung cấp địa chỉ của chị X ở nước ngoài. Do vậy, căn cứ công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.

. Về nội dung vụ án: Việc kết hôn giữa anh Diệp Văn N và chị Lưu Thị X trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T.L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo anh N khai: Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ, hòa thuận. Đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên tranh cãi. Đến tháng 6/2017 chị X một mình bỏ về nhà ngoại và tự ý đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài. Từ đó đến nay vợ chồng không còn sự quan tâm, yêu thương nhau. Nay anh Nxác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị X.

Phía bị đơn chị X, mặc dù không có lời khai bằng văn bản gửi về Tòa án nhưng thông qua đại diện thân nhân ở trong nước (bố đẻ chị X), chị cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn từ trước, không thể hòa giải nên chị mới bỏ về nhà ngoại ở. Sau đó, chị đã đi lao động xuất khẩu tại Nhật Bản. Hiện nay hai vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương nhau, anh N xin ly hôn chị nhất trí. Như vậy, có căn cứ cho thấy giữa anh Nvà chị X đã không còn tình cảm vợ chồng, cũng không còn quan tâm và thương yêu nhau, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, anh chị đều nhất trí ly hôn. Hội đồng xét xử thấy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh N, cho anh N được ly hôn chị X là phù hợp với thực tế và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.

Về con chung: Anh N và chị X có 02 con chung là Diệp Tùng B, sinh ngày 15/9/2012 và Diệp Ngọc D, sinh ngày 21/11/2014. Khi ly hôn anh N có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung và thông qua đại diện thân nhân của chị X, chị X cũng nhất trí để anh N trực tiếp nuôi con, do hiện nay chị đang ở nước ngoài không thể chăm sóc cho con chung được, chị cũng có ý kiến khi chị về nước chị có nguyện vọng được nuôi cháu, sẽ thỏa thuận lại với anh N về việc nuôi con. Để đảm bảo điều kiện tốt nhất của trẻ khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử giao thấy cần tiếp tục giao cả hai con chung là Diệp Tùng B, sinh ngày 15/9/2012 và Diệp Ngọc D, sinh ngày 21/11/2014 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế đảm bảo mọi mặt của con chung khi cha mẹ ly hôn và nguyện vọng của cháu Diệp Tùng B, Diệp Ngọc D tại bản tự khai ngày 23/4/2022, cũng như quy định của pháp luật tại Điều 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh N không yêu cầu chị X phải có nghĩa vụ cấp dưỡng, chị X nhất trí vì bản thân chị hiện đang lao động xuất khẩu tại nước ngoài nên không thể thực hiện nghĩa vụ của mình. Tạm hoãn phần nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị X vì anh N không yêu cầu.

Chị X có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung và được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh N xác định không có và không yêu cầu giải quyết. Phía chị X không có lời khai bằng văn bản, thể hiện ý kiến, quan điểm của mình nên Hội đồng xét xử không giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Các bên đương sự cũng có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có đủ căn cứ và có yêu cầu.

. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh N phải chịu 300.000đ đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hướng giải quyết vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử xét chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ, áp dụng pháp luật:

- Điều 28, Điều 37, Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Diệp Văn N. Cho anh Diệp Văn N được ly hôn với chị Lưu Thị X.

2. Về quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, thăm nom con và thay đổi nuôi con chung:

- Về quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con: Giao cho anh Diệp Văn N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là cháu Diệp Tùng B, sinh ngày 15/9/2012 và cháu Diệp Ngọc D, sinh ngày 21/11/2014 cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị Lưu Thị X, do anh Diệp Văn N chưa có yêu cầu.

- Về thăm nom con và thay đổi nuôi con chung: Chị Lưu Thị X là người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, chị Lưu Thị X có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

3. Tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu. Tòa án không giải quyết.

4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Diệp Văn N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung quỹ Nhà nước. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), theo biên lai số theo biên lai thu tiền số 0000100 ngày 22/4/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

Anh Diệp Văn N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Chị Lưu Thị X được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ