vanban.org

Bản án 27/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với A T1, sinh ngày 20 tháng 4 năm 2003.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy công lập tại cơ sở cai nghiện ma túy - Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "A Y"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với A T1, sinh ngày 20 tháng 4 năm 2003.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 100 Quyết định số 163/2026/QĐ-UBND Quy định tiêu chí dự án phát…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 27/2026/QĐ-TAQuảng Ngãi, ngày 18 tháng 7 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

Đưa đi cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

-Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu T.

- Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi.

Ngày 18/7/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với hồ sơ thụ lý số 27/2026/TL-HS ngày 09 tháng 7 năm 2026 theo quyết định mở phiên họp số 25/2026/QĐ-MPH ngày 13 tháng 7 năm 2026 đối với người bị đề nghị:

Họ và tên: A T1, sinh ngày 20/4/2003; Số định danh cá nhân/CMND/CCCD: 062203005967; Nơi thường trú: Thôn K, xã I, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Làm nông; Giới tính: Nam; Dân tộc: Gia Rai; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 07/12; Con ông Siu Đ, sinh năm 1984 và bà Y G, sinh năm 1985; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 29/9/2025 bị Công an xã I, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Phạt tiền 1.500.000 đồng, theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC. Vắng mặt tại phiên họp.

Những người tham gia phiên họp, gồm có:

1. Người đề nghị: Trưởng Công an xã I, tỉnh Quảng Ngãi – Thượng tá Vũ Quốc T2.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Thu Hằng – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được tóm tắt như sau:

Mặc dù đã bị Ủy ban nhân dân xã I, tỉnh Quảng Ngãi áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 620/QĐ-UBND, ngày 07/10/2025. Tuy nhiên, vào ngày 13/6/2026, A T1 “Sử dụng trái phép chất ma tuý” tại khu vực lô cao su, thuộc xã I, tỉnh Quảng Ngãi. Đến ngày 16/6/2026, Công an xã I, tỉnh Quảng Ngãi tiến hành tets nhanh ma túy trong nước tiểu của A T1, phát hiện A T1 dương tính với chất ma tuý trong cơ thể.

Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 22/6/2026 của Trung tâm điều trị và nuôi dưỡng người bệnh tâm thần Kon Tum – Sở Y tế tỉnh Q xác định A T1 có nghiện ma túy.

Ngày 22/6/2026, Công an xã I, tỉnh Quảng Ngãi đã hướng dẫn đăng ký cai nghiện tự nguyện tại các trung tâm cai nghiện, A T1 đã cam kết với cơ quan Công an về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện trong thời gian quy định. Tuy nhiên, sau đó A T1 không đăng ký cai nghiện tự nguyện trong thời gian quy định nên vào ngày 30/6/2026, Công an xã I tiến hành lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Ngày 06/7/2026, Công an xã I có Văn bản số 863/ĐN-CNBB về việc đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với A T1.

- Ý kiến của Trưởng Công an xã I, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên họp: Tại phiên họp Trưởng Công an xã I vẫn giữ nguyên Văn bản số 863/ĐN-CNBB ngày 06/7/2026 về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A T1. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với A T1 với thời hạn theo quy định của pháp luật là 24 tháng, cai nghiện tại: Cơ sở cai nghiện - Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q, địa chỉ: Thôn A, xã N, tỉnh Quảng Ngãi.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi: Thông qua việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc. Trong quá trình thụ lý giải quyết hồ sơ cho đến thời điểm công bố quyết định, Thẩm phán, Thư ký, người đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp luật lệnh số 08/2025/UBTVQH15 và Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; khoản 1 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025; Căn cứ khoản 1 Điều 29; Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025; Nghị định 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Phòng, chống ma túy năm 2025. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với A T1 với thời hạn là 24 tháng theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở ý kiến của những người tham gia phiên họp.

XÉT THẤY

Về thẩm quyền đề nghị: Việc Trưởng Công an xã I, tỉnh Quảng Ngãi có văn bản đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với A T1 là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 7 thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với A T1 được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025; các Điều 100, 101, 102 của Nghị định 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Phòng, chống ma túy năm 2025.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc: Vào ngày 16/6/2026 lực lượng Công an xã I, tỉnh Quảng Ngãi phát hiện A T1 sử dụng trái phép chất ma tuý. Căn cứ khoản 4 Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 thì thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với A T1 vẫn còn.

Về căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Xét thấy, A T1 là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký, không thực hiện chấm dứt cai nghiện và là đối tượng bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý theo Quyết định số 620/QĐ-UBND, ngày 07/10/2025 của Ủy ban nhân dân xã I, tỉnh Quảng Ngãi; với thời hạn 01 năm; tuy nhiên, vào ngày 16/6/2026, A T1 tiếp tục bị phát hiện có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và được xác định là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống ma túy năm 2025

Vì vậy, căn cứ Điều 35 Luật Phòng chống ma túy năm 2025 thì hành vi của A T1 có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc theo như đề nghị của Trưởng Công an xã I, tỉnh Quảng Ngãi. Việc đưa A T1 đi cai nghiện ma túy bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma tuý là cần thiết đồng thời giúp cho A T1 cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Ngày 29/9/2025, A T1 bị Công an xã I, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Phạt tiền 1.500.000 đồng theo quyết định xử phạt hành chính số 13/QĐ-XPHC tính đến ngày 13/6/2026 chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng tiếp tục có hành vi vi phạm hành chính nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Tình tiết giảm nhẹ: A T1 đã tự nguyện khai báo, viết bản tường trình về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 23; Điều 24; Điều 25; Điều 30; Điều 31; Điều 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH ngày 13/12/2022 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số và Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 89; Điều 100, 101, 102 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Phòng chống ma túy năm 2025.

Căn cứ khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025.

Căn cứ khoản 1 Điều 29; Điều 35; 54; 55; 56 Luật Phòng chống ma túy năm 2025.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với A T1, sinh ngày 20 tháng 4 năm 2003.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy công lập tại cơ sở cai nghiện ma túy - Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q; địa chỉ: Thôn A, xã N, tỉnh Quảng Ngãi.

3. Về thời hạn khiếu nại, khiến nghị, kháng nghị quyết định của Tòa án.

Thời hạn khiếu nại của người bị đề nghị A T1 là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Thời hạn kiến nghị của Trưởng Công an xã I, tỉnh Quảng Ngãi và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an xã I, tỉnh Quảng Ngãi; Ủy ban nhân dân xã I, tỉnh Quảng Ngãi và Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ