- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Dũng - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “ Hủy hoại tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:27/2026/HSST Ngày 13 tháng 02 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Minh Hiệp
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Sửu
Ông Nguyễn Trần Mạnh Trường.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lại Phương Thuý, Thư ký Toà án
nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Lợi, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2026/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2026. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2026/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh ngày 02/02/1984 Nơi cư trú: Thôn B, xã L, tỉnh Ph; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; bố đẻ: Nguyễn Văn Th, sinh năm 1960; mẹ đẻ: Đặng Thị H, sinh năm 1964; vợ: Bùi Thị Th, sinh năm 1986; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/11/2025 đến ngày 16/01/2026 được thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1991, vắng mặt Nơi cư trú: Thôn B, xã L, tỉnh Ph.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị Th, sinh năm 1986, có mặt. Nơi cư trú: Thôn B, xã L, tỉnh Ph.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn D sinh năm 1984 và chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1991 (em gái D), đều cư trú thôn B, xã L, tỉnh Ph được bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1960 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1964, cư trú ở cùng thôn cắt chia cho mỗi người một phần đất tại thửa đất số 95, tờ bản đồ số 8, theo bản đồ địa chính hệ tọa độ VN2000 đất có diện tích 2.490,2m2 ở thôn B, xã L, tỉnh Ph, toàn bộ thửa đất thuộc sở hữu của vợ chồng ông Th, việc chia đất được ông Th nhờ người đo đạc vẽ hình thửa đất để làm thủ tục sang tên đất cho D và chị Th. D và chị Th đều đã làm nhà ra ở riêng. Phần diện tích đất ông Th cho chị Th được nằm tiếp giáp liền kề phía sau nhà D. Tháng 01/2025, chị Th nhờ ông Th đứng ra thuê người xây dựng 01 bờ tường rào để ngăn cách giữa phần đất bố mẹ cho hai anh em, ông Th xác định mốc giới đất và thuê anh Nguyễn Văn T sinh năm 1981, cư trú thôn Xuân Me, xã Liên Hòa, tỉnh Phú Thọ gọi mua nguyên vật liệu, xây dựng đoạn bờ tường rào có chiều dài 20m, xây từ thấp đến cao, điểm thấp nhất là 1,2m, điểm cao nhất là 1,5m, xây tường 10 và được xây bằng loại gạch đỏ 02 lỗ kích thước (0,08 x 0,05 x 0,2)m, giữa các viên gạch liên kết với nhau bằng hỗn hợp xi măng nhãn hiệu Yên Bái và cát xây. Sau khi xây xong chị Thanh thanh toán cho anh Tin. D biết rõ bờ tường rào là của chị Th xây dựng nhưng do bực tức, mâu thuẫn gia đình nên khoảng 17 giờ ngày 15/7/2025, D lấy lý do chị Th xây tường rào làm nước mưa ngấm vào nhà bếp của D nên D đã dùng búa tạ đập đổ vỡ toàn bộ đoạn tường rào trên, chị Th phát hiện bờ tường rào của mình bị hủy hoại đã làm đơn tố cáo đến Công an xã Liên Hòa đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại bản Kết luận định giá số 102/KL-HĐĐGTS ngày 15/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Phú Thọ, kết luận: Giá trị 01 bức tường rào xây bằng gạch bị vỡ thành nhiều mảnh nằm rải rác, đặc điểm: Tường rào có chiều dài 20m, xây từ thấp đến cao, điểm thấp nhất là 1,2m, điểm cao nhất là 1,5m, được xây bằng loại gạch đỏ 02 lỗ kích thước (0,08 x 0,05 x 0,2)m, giữa các viên gạch liên kết với nhau bằng hỗn hợp xi măng nhãn hiệu Yên Bái và cát xây tại thời điểm ngày 15/7/2025 là 4.505.000 đồng.
Cáo trạng số: 54/CT-VKS ngày 29 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 truy tố Nguyễn Văn D về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn D, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “ Hủy hoại tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s, I, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn D từ 08 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên đúng theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận định giá tài sản …. và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 17 giờ ngày 15/7/2025, do mâu thuẫn gia đình Nguyễn Văn D đã có hành vi dùng búa tạ đập hủy hoại 20m bờ tường rào xây trị giá 4.505.000 đồng của chị Nguyễn Thị Th (em gái D) ở cùng thôn B, xã L, tỉnh Ph.
Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác của bị cáo Nguyễn Văn D đã phạm vào tội “ Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự quy định:
1.“Người nào hủy hoại... tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ...thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật là cần thiết nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, i, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định, vì vậy chỉ cần xử phạt bị cáo mức án tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định một thời gian thử thách nhất định dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, như vậy cũng đủ điều kiện để bị cáo tự cải tạo mình trở thành người công dân có ích cho xã hội.
. Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra bị cáo D đã tự nguyện xây lại tường rào cho chị Th, chị Th không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng
Đối với chiếc búa tạ Nguyễn Văn D sử dụng làm phương tiện phạm tội, D khai nhận sau khi hủy hoại tài sản đã bỏ tại hiện trường, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không thu giữ được để xử lý được.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “ Hủy hoại tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b, s, i, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt: Nguyễn Văn Dũng D 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho UBND xã L, tỉnh Ph giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo D có thay đổi về nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo D cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc niêm yết công khai tại UBND nơi cư trú của người vắng mặt để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ - VKSND khu vực 11- PT. - Phòng THSDS khu vực 11- PT - Công an tỉnh Phú Thọ (phòng hs) - Cơ quan THAHS CA tỉnh Phú Thọ - Bị cáo - Lưu HS+Vp | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đã ký và đóng dấu Ngô Thị Minh Hiệp |