- Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyên minh q - chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG THÁP ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2026/HS-ST Ngày 24-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Xuân Lam
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Nhu
Ông Nguyễn Phước Tường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường An - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh Q, sinh ngày 21/02/1985, tại tỉnh Đồng Tháp. CCCD số 082, HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố Th, phường Th, tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha là Nguyễn Văn P (1951, đã chết), mẹ là Nguyễn Thị Bé S (1955); Vợ là Lâm Thị Thanh T (1985, đã ly hôn), chưa có con; Tiền án: Không; Tiền sự: 02 lần. Ngày 29/5/2019, bị Tòa án nhân dân (TAND) thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là TAND khu vực 4 - Đồng Tháp) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 25/7/2020. Ngày 25/02/2021, bị TAND thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 05/01/2024. Về nhân thân: Từ nhỏ sống với gia đình ở xã Thanh Hòa, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là phường Thanh Hòa, tỉnh Đồng Tháp), học hết lớp 9 thì nghỉ học. Ngày 13/4/2010, bị TAND tỉnh Bến Tre (nay là TAND tỉnh Vĩnh Long) xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Chấp hành xong bản án vào ngày 26/4/2015. Ngày 05/3/2019, bị Công an thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là Công an tỉnh Đồng Tháp) quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Chưa chấp hành, đã hết thời hiệu thi hành Quyết định. Ngày 29/9/2020, bị Ủy ban nhân dân (UBND) xã Thanh Hòa, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là UBND phường Thanh Hòa, tỉnh Đồng Tháp) quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 29/9/2020. Ngày 11/01/2024 bị UBND xã Thanh Hòa, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn từ ngày 11/01/2024 đến ngày 10/01/2026. Bị bắt, tạm giam từ ngày 23/9/2025 cho đến nay. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh Q đang trong thời hạn bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 11/01/2024 của UBND xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là UBND phường T, tỉnh Đồng Tháp) thời hạn từ ngày 11/01/2024 đến ngày 10/01/2026.
Khoảng 08 giờ ngày 14/8/2025, Q thuê xe honda ôm đi từ nhà đến khu vực Công viên thuộc phường L, tỉnh Vĩnh Long gặp một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mua ma túy loại Heroin pha với Methamphetamine được gói trong 01 mảnh giấy bạc với giá tiền 100.000 đồng. Trên đường đi, Q ghé quầy thuốc tây (không nhớ tên) gần cầu M mua kim tiêm và ống nước cất.
Sau khi mua được ma túy, Q thuê xe honda ôm đến Trung tâm Y tế khu vực C, tại ấp A, xã H, tỉnh Đồng Tháp để lấy thuốc uống theo chương trình điều trị tự nguyện bằng thuốc thay thế Methadone.
Khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, khi đến Trung tâm Y tế, trước khi vào nhận thuốc Methadone, Q vào nhà vệ sinh thuộc Phòng Điều trị nghiện chất, mở gói giấy bạc, lấy toàn bộ số ma túy đã mua trước đó cho vào ống bơm, gắn đầu kim tiêm vào ống bơm, bơm nước cất vào hòa tan ma túy, sau đó tiêm vào mạch máu ở cánh tay phải. Sau khi sử dụng xong, Q vứt bỏ kim tiêm, mảnh giấy bạc, vỏ ống nước cất vào thùng rác, đến Phòng Điều trị nghiện chất nhận thuốc Methadone uống rồi trở về nhà.
Ngày 15/8/2025, Công an phường Thanh Hòa mời Quang làm việc, qua xét nghiệm bằng phương pháp thử nhanh bằng que thử nước tiểu, Q dương tính với chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: Mẫu nước tiểu của Nguyễn Minh Q được chứa trong một chai nhựa trong suốt có nắp màu trắng đậy kín, thu giữ vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 15/8/2025, được niêm phong. Hiện mẫu nước tiểu đã sử dụng hết cho công tác giám định.
Kết luận giám định số 1146/KL-KTHS ngày 22/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine và Morphine trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Minh Q, chứa trong 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu trắng đậy kín, được niêm phong bằng giấy có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Minh Q, Lê Minh T, Nguyễn Phạm S và có ghi dòng chữ “MẪU NƯỚC TIỂU CỦA NGUYỄN MINH Q”.
Hoàn lại đối tượng giám định: Hoàn lại mảnh giấy trắng có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Minh Q, Lê Minh T, Nguyễn Phạm S và có ghi dòng chữ “MẪU NƯỚC TIỂU CỦA NGUYỄN MINH Q”.
Nguyễn Minh Q được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đối với người tài xế xe honda ôm chở bị cáo Q đi mua ma túy ở Vĩnh Long, do không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không tiến hành xác minh làm rõ được.
Đối với đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch đã bán ma tuý cho bị cáo Quang, Cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 12/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) Khu vực 5 - Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Minh Q về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
* Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Q phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Minh Q từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Mảnh giấy trắng có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh Q, Lê Minh Tr, Nguyễn Phạm S và có ghi dòng chữ “MẪU NƯỚC TIỂU CỦA NGUYỄN MINH Q”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Xét trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự và thủ tục theo quy định pháp luật.
Về nội dung:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Minh Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng mà vị đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Trong thời gian bị quản lý theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 41/QĐ-UBND ngày 11/01/2024 của UBND xã Th, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là phường Th, tỉnh Đồng Tháp), thời hạn từ ngày 11/01/2024 đến ngày 10/01/2026 nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng việc khi đến Trung tâm Y tế, trước khi vào nhận thuốc Methadone, bị cáo vào nhà vệ sinh thuộc Phòng Điều trị nghiện chất, mở gói giấy bạc, lấy toàn bộ số ma túy đã mua trước đó cho vào ống bơm, gắn đầu kim tiêm vào ống bơm, bơm nước cất vào hòa tan ma túy, sau đó tiêm vào mạch máu ở cánh tay phải.
Theo Kết luận giám định số 1146/KL-KTHS ngày 22/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine và Morphine trong mẫu nước tiểu của bị cáo.
Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Q đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Xét về nhân thân:
Bị cáo có 02 tiền sự là ngày 29/5/2019, bị TAND thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là TAND khu vực 4 - Đồng Tháp) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 25/7/2020.
Ngày 25/02/2021, bị TAND thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 05/01/2024.
Mặt khác, bị cáo có nhân thân xấu là ngày 13/4/2010, bị TAND tỉnh Bến Tre (nay là TAND tỉnh Vĩnh Long) xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Ngày 05/3/2019, bị Công an thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là Công an tỉnh Đồng Tháp) quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 29/9/2020, bị UBND xã Thanh Hòa, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là UBND phường Thanh Hòa, tỉnh Đồng Tháp) quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 29/9/2020.
Ngày 11/01/2024, bị UBND xã Thanh Hòa, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn từ ngày 11/01/2024 đến ngày 10/01/2026.
Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện và thực hiện hành vi phạm tội tại chính nơi đang điều trị nghiện chất cho bị cáo như đã nêu trên. Điều này thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo.
Nên, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian với mức hình phạt thích đáng để nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có trách nhiệm với gia đình và có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét lượng hình phù hợp đối với bị cáo đúng luật định.
Đối với người tài xế xe honda ôm chở bị cáo đi mua ma túy ở Vĩnh Long, do không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không tiến hành xác minh làm rõ được. Nên không đặt ra xem xét.
Đối với đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch đã bán ma tuý cho bị cáo, Cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm, khi có căn cứ sẽ xử lý sau. Nên không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Xét, mảnh giấy trắng có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Minh Q, Lê Minh Trung, Nguyễn Phạm Sang và có ghi dòng chữ “MẪU NƯỚC TIỂU CỦA NGUYỄN MINH Q”đã phục vụ xong cho việc giám định, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Q đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2025.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ:
Mảnh giấy trắng có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Minh Q, Lê Minh Trung, Nguyễn Phạm Sang và có ghi dòng chữ “MẪU NƯỚC TIỂU CỦA NGUYỄN MINH Q”.
Vật chứng nêu trên được lưu giữ tại kho của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5 - Đồng Tháp theo Quyết định chuyển vật chứng số 30/QĐ-VKSKV5 ngày 12/02/2026 của VKSND Khu vực 5 - Đồng Tháp.
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - CAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND khu vực 5; - Phòng THADS khu vực 5; - Cơ quan THAHS; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoàng Xuân Lam |