vanban.org

Bản án 27/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thùng Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025): Xử phạt bị cáo Thùng Văn P 03 (ba) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt: 16/7/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thùng Văn P - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thùng Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27 /2026/HS-ST
Ngày 12- 02-2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm P - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Thuy và ông Vàng Văn Toàn.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Dần - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Sùng A Lếnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ phân trại Nà Hỳ, trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên; Mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 18/12/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2026/QĐXXST-HS ngày 08/01/2026 đối với bị cáo:

Thùng Văn P; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/01/1978, tại tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú: Bản M, xã M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân: 011078003570 cấp ngày: 21/12/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Con ông: Thùng Văn C, đã chết và con bà: Khoàng Thị S, đã chết; Vợ, con: Bị cáo không có vợ, con; Tiền sự: Có 01 tiền sự; Tiền án: Không.

Nhân thân: Năm 2017 và 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Ngày 27/9/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng, đến ngày 27/3/2025 chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về địa phương sinh sống, đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội chưa được xóa tiền sự.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 16/7/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam Nà Hỳ, Công an tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Lan, là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 20 phút ngày 16/7/2025, tổ công tác Công an xã M làm nhiệm vụ tại bản M, xã M, tỉnh Điện Biên thì phát hiện tại nhà của Thùng Văn P có dấu hiệu vi phạm pháp luật về ma túy. Tổ công tác đã vào nhà kiểm tra, yêu cầu Thùng Văn P có đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy thì giao nộp, Thùng Văn P đã tự giác lấy trong túi áo ngực bên phải đang mặc ra 01 gói giấy màu trắng, bên trong có một cục chất bột màu trắng là Heroine, có khối lượng 0,103 gam giao nộp cho tổ công tác. Thùng Văn P khai nhận số Heroine trên là của Thùng Văn P đã mua vào ngày 15/7/2025 của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bản M, xã M, tỉnh Điện Biên với giá 100.000đồng, với mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp xử dụng thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Cùng ngày tổ công tác đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Thùng Văn P nhưng không thu giữ được gì.

Bản kết luận giám định số: 701/KL-KTHS, ngày 22/7//2025 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

Vật chứng gửi giám định thu giữ của Thùng Văn P có khối lượng 0,103 gam là chất ma túy: Loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Bản cáo trạng số: 24/CT-VKSKV5 ngày 17/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị can Thùng Văn P về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Thùng Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội. Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Thùng Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Thùng Văn P từ 03 năm 01 tháng đến 03 năm 03 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,06 gam Heroine (hoàn lại sau khi giám định), 01 mảnh giấy màu trắng là vật chứng vụ án.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Thùng Văn P nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Thùng Văn P là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không được đi học, thực hiện hành vi phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo Thùng Văn P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Đồng thời xem xét hoàn cảnh gia đình, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Thùng Văn P nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên, không bổ sung gì với bản luận cứ bào chữa của người bào chữa và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Thùng Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 16/7/2025; Kết luận giám định số: 701/KL-KTHS, ngày 22/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Bị cáo Thùng Văn P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,103 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngày 27/9/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng, đến ngày 27/3/2025 bị cáo chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến ngày 16/7/2025 bị cáo có hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy; quá trình điều tra đã làm rõ tại thời điểm bị bắt bị cáo âm tính với chất ma túy. Vì vậy Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Thùng Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Thùng Văn P thuộc trường hợp nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt các chất ma tuý của Nhà nước và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo Thùng Văn P là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, để có ma túy sử dụng bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo Thùng Văn P đã tiếp tay cho những kẻ mua bán trái phép chất ma túy, đi ngược lại với đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta. Hành vi của bị cáo Thùng Văn P cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giữ vững kỷ cương của pháp luật góp phần đẩy lùi tội phạm ma tuý và nhằm răn đe, phòng ngừa chung trong nhân dân.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo Thùng Văn P có nhân thân xấu. Năm 2017, 2021 P bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Ngày 27/9/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng, đến ngày 27/3/2025 chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về địa phương sinh sống, đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội chưa được xóa tiền sự. Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo Thùng Văn P và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo sửa chữa lỗi lầm của mình, nhằm sau này trở thành công dân có ích cho xã hội. Ngoài hình phạt chính, qua xác minh, xét thấy bị cáo Thùng Văn P là người nghiện ma túy, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng vụ án: Gồm 0,06 gam Heroine (hoàn lại sau khi giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành, 01 mảnh giấy màu trắng là vật không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Thùng Văn P theo lời khai của bị cáo Thùng Văn P do không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra xác minh làm rõ.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên và người bào chữa cho bị cáo Thùng Văn P về hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần xem xét để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

[6] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Thùng Văn P là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Thùng Văn P và người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thùng Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025):

Xử phạt bị cáo Thùng Văn P 03 (ba) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt: 16/7/2025.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,06 gam Heroine (hoàn lại sau khi giám định), 01 mảnh giấy màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/12/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Điện Biên.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016: Bị cáo Thùng Văn P được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

5.Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án: 20/01/2026.

Cỡ chữ